Sau khi thoát khỏi cảnh nô lệ, một người phụ nữ tên là Linda Brent đã kể lại
một câu chuyện đau lòng khác:
Giờ đây tôi đã bước sang năm thứ 15 – một thời kỳ đáng buồn của kiếp nô
lệ. ông chủ bắt đầu lè nhè những lời ghê tởm vào tai tôi. Do vẫn còn trẻ, tôi
không thể cứ vô tư về mục đích mà gã mua tôi về… Lão chủ luôn tìm cách
sán đến cạnh tôi, nhắc nhở rằng tôi thuộc về lão ta và bằng mọi giá lão ta sẽ
bắt tôi phải hiến dâng cho lão. Mỗi khi tôi cố thoát ra ngoài để hưởng chút
không khí trong lành sau một ngày phục dịch vất vả, bước chân của gã lại
săn đuổi tôi. Ngay cả lúc tôi đang quỳ trước mộ của mẹ mình, cái bóng đen
của lão cũng đè ập lên tôi. Trái tim mong manh mà thiên nhiên ban tặng cho
tôi đã trở nên trĩu nặng với những điềm báo trước không hay ho gì…
Thậm chí những người phụ nữ da trắng tự do, được đem đến Mỹ chỉ để làm
vợ, chứ không phải với tư cách nô lệ hoặc đầy tớ, cũng phải chịu rất nhiều
cơ cực. Trên chuyến tàu Mayflower , có tới 18 phụ nữ đã có gia đình. Ba
trong số đó đang có mang và một người đã sinh ra một đứa bé, nó bị chết
trước khi họ đặt chân lên đất liền. Sinh nở và bệnh tật đã làm rất nhiều phụ
nữ đổ quỵ. Sang mùa xuân, trong số 18 người phụ nữ đó chỉ còn bốn người
sống sót.
Những người phụ nữ còn sống phải chia sẻ công việc nặng nhọc với đàn
ông để xây dựng cuộc sống nơi hoang dã, thường được kính trọng đặc biệt
bởi vì họ là những người hết sức cần thiết. Khi đàn ông qua đời, đàn bà
cũng phải gánh vác công việc của đàn ông. Hầu như trong suốt hơn một thế
kỷ đầu tiên, phụ nữ ở các vùng biên giới của nước Mỹ dường như khá bình
đẳng so với đàn ông.
Nhưng tất cả phụ nữ đều bị đè nặng bởi thứ tư tưởng của những người đi
khai phá thuộc địa mang đến từ Anh quốc, vốn bị chi phối bởi các giáo lý
của Đạo Thiên chúa. Luật pháp của Anh quốc được tóm tắt trong một văn