cha ông của anh. Đừng giao hết quyền lực vô biên vào tay các ông chồng.
Hãy nhớ rằng tất cả đàn ông đều có thể trở thành những tên bạo chúa nếu
họ có điều kiện. Nếu không có sự quan tâm và lưu ý chu đáo đến phụ nữ, có
lẽ chúng ta đang ươm những mầm mống bạo loạn và chúng ta đừng trói
buộc mình phải tuân thủ hệ thống luật pháp mà chúng ta không có tiếng nói
đại diện.
Tuy nhiên, Jefferson lại nhấn mạnh câu “mọi người (đàn ông) đều có quyền
bình đẳng”, cách tuyên bố đó có thể dẫn đến cách hiểu là phụ nữ Mỹ “quá
thông thái để nhăn trán với những chuyện chính trị”. Và sau cuộc Cách
mạng, hiến pháp mới của các bang đều không hề đề cập việc trao quyền bỏ
phiếu cho phụ nữ, trừ bang New Jersey. Tuy nhiên, năm 1807, bang này
cũng hủy bỏ quyền đó. Hiến pháp của New York tước quyền bầu cử của
phụ nữ bằng cách dùng từ “male” (đàn ông).
Vào những năm 1750, khoảng 90% đàn ông da trắng mù chữ, còn đối với
phụ nữ con số này chỉ khoảng 40%. Phụ nữ thuộc tầng lớp lao động có ít
phương tiện truyền thông và hầu như không có các phương tiện để ghi lại
bất cứ tâm trạng nổi loạn nào mà họ có thể cảm nhận dưới tác động của vị
thế luôn bị xem là hạ cấp. Họ không chỉ đảm nhiệm việc sinh nở, chịu nhiều
vất vả nhọc nhằn, mà còn phải gánh vác công việc nội trợ. Trong khoảng
thời gian Tuyên ngôn Độc lập ra đời, bốn nghìn phụ nữ và trẻ em tại
Philadelphia vẫn phải miệt mài xe sợi tại nhà cho các nhà xưởng địa
phương, dưới thứ hệ thống “phân biệt đối xử”. Phụ nữ cũng là những người
chủ cửa hàng, cửa hiệu và tham gia nhiều hoạt động kinh doanh khác. Họ là
người làm bánh, thợ đóng hộp, người ủ nấu rượu, thợ thuộc da, thợ bện dây
chão, thợ rừng, thợ in, người làm dịch vụ đưa tang, thợ mộc, thợ may yếm
và còn biết bao nghề khác nữa.
Khi nói về quyền bình đẳng của phụ nữ, Thomas Paine cho rằng ý tưởng về
bình quyền nam nữ còn rất xa vời trong và sau thời kỳ Cách mạng. Một