đương một phần tư đến một phần hai so với đàn ông làm cùng công việc đó.
Phụ nữ không được làm các nghề luật, nghề y, cũng như không được học
đại học, làm việc tại các bộ.
Nancy Cott chỉ ra rằng, việc xếp tất cả phụ nữ vào cùng loại – dành cho họ
cùng không gian trong gia đình – đã tạo ra một sự phân loại (theo giới tính)
làm lu mờ các ranh giới về giai cấp. Tuy nhiên, những áp lực trong công
việc vẫn làm gia tăng các vấn đề về giai cấp. Năm 1789, Samuel Slater giới
thiệu các máy móc dệt công nghiệp tại New England và khi đó nảy sinh nhu
cầu cần cô gái trẻ, hay gọi bóng bẩy là “các bà cô độc thân” – để đứng máy
dệt trong các nhà máy. Năm 1814, khung dệt chạy điện được đưa vào sử
dụng tại Waltham, Massachusetts, và cũng khi đó tất cả công đoạn cần thiết
để biến sợi bông thành vải được thực hiện trong cùng một nhà xưởng. Các
nhà máy dệt mọc lên như nấm, với lượng công nhân nữ chiếm tới 80-90%
và hầu hết số công nhân nữ này nằm trong độ tuổi từ 15 đến 30.
Một số cuộc đình công sớm nhất của ngành công nghiệp đã diễn ra tại các
nhà máy dệt này, vào đầu những năm 1830. Trong cuốn A Century of
Struggle (Một thế kỷ đấu tranh), Eleanor Flexner đã đưa ra những con số có
thể giúp chúng ta tìm hiểu nguyên nhân các cuộc đình công đó: công nhật
trung bình của phụ nữ chưa đến 371 xu và hàng nghìn phụ nữ mỗi ngày chỉ
kiếm được 25 xu, trong khi phải làm quần quật từ 12-16 tiếng mỗi ngày.
Năm 1824, tại Pawtucket, Rhode Island người ta đã chứng kiến cuộc đình
công đầu tiên của các nữ công nhân nhà máy. 202 phụ nữ đã sát cánh cùng
đàn ông phản đối việc cắt lương và kéo dài giờ làm, tuy nhiên hai đoàn biểu
tình này diễn ra riêng biệt. Bốn năm sau, những người phụ nữ tại Dover,
New Hampshire đã tự mình đứng lên biểu tình. Năm 1834 tại Lowell,
Massachusetts, một phụ nữ trẻ bị đuổi việc, những cô gái khác lập tức rời
bỏ khung dệt, một cô trong số đó đã leo lên chiếc máy bơm của thị trấn và
theo như một tờ báo thì “bài diễn văn cháy bỏng của Mary Wollstonecraft
về quyền phụ nữ và những bất công từ ‘tầng lớp quý tộc giàu có’ đã tạo nên