đồi, từng tảng đá, từng dòng suối, từng lạch sông. Họ chưa bao giờ quen
được với nguyên tắc thiết lập chế độ sở hữu cá nhân về đất đai, cũng như sở
hữu cá nhân về bầu trời, tuy nhiên họ yêu đất đai hơn bất cứ chủ đất nào.
Họ luôn cảm giác mình là một phần của cỏ cây, núi đồi, các loài động vật
và chim muông. Quê hương họ là mảnh đất thiêng mà với họ là nơi các linh
hồn tổ tiên yên nghỉ và là điện thờ tự nhiên đối với tôn giáo của họ. Họ
quan niệm thác nước và đỉnh núi, mây và sương mù, thung lũng và đồng cỏ
là nơi cư ngụ của hàng nghìn, hàng triệu linh hồn mà họ giao tiếp hàng
ngày. Từ nơi đây, mảnh đất với những khu rừng mưa, những dòng sông, con
suối, nơi họ vẫn được nuôi dạy bởi các truyền thống của cha ông và những
khát vọng linh hồn của chính họ, họ bị đày đến những vùng đồng bằng xa
xôi và khô cằn ở miền Tây – một vùng hoang vắng sau này được biết đến
với tên Great American Desert (Sa mạc lớn của Mỹ) .
Theo Van Every, ngay trước khi Jackson trở thành Tổng thống, vào những
năm 1820, sau sự hỗn độn của cuộc chiến tranh năm 1812 và cuộc chiến
chống lại bộ lạc Creek, người Anh-điêng ở phía Đông và người da trắng đã
hòa hoãn với nhau, trở nên gần gũi và sẵn sàng chung sống hòa bình trong
môi trường tự nhiên, có vẻ là đủ rộng cho cả hai bên. Họ bắt đầu nhìn thấy
các vấn đề chung. Tình bạn được thiết lập. Người da trắng được phép đi
thăm các cộng đồng người Anh-điêng và người Anh-điêng cũng thường
xuyên trở thành khách ở nhà người da trắng. Chính những nhân vật lãnh
đạo mới của vùng biên giới, như Davy Crockett và Sam Houston, đã thúc
đẩy các tiến bộ đó và cả hai – không giống như Jackson – đều trở thành
những người bạn lâu dài của người Anh-điêng.
Van Every khăng khăng cho rằng việc ép buộc di dân không phải do người
da trắng ở vùng biên giới, những người vốn là láng giềng của người Anh-
điêng. Điều đó là do công nghiệp hóa và thương mại, dân số gia tăng, do
phát triển xây dựng đường xe lửa và các thành phố, do giá đất tăng và lòng
tham của các thương nhân. “Lãnh đạo các đảng phái và chủ đầu cơ đất đã