thật quan trọng khác, như con người có thể được làm gì và không được làm
gì…
Thậm chí ngay từ thời đó, tôi nhớ ấn tượng mạnh mẽ nhất là đến một ngày
nào đó mình sẽ trở thành người tự do. Đó là một giấc mơ đã tiềm ẩn trong
bản chất con người tôi – đó là sự đe dọa đối với chế độ nô lệ – đó cũng là
những điều mà tất cả thế lực cai quản nô lệ không thể nào đè bẹp hoặc xóa
bỏ.
Đạo luật Nô lệ bỏ trốn (Fugitive Slave Act) được thông qua năm 1850 là
một bước nhượng bộ của các bang miền Nam, để đổi lấy việc thừa nhận các
lãnh thổ trong cuộc chiến tranh Mexico (nhất là bang California) được gia
nhập Liên bang với tư cách là các bang không còn nô lệ. Đạo luật này cho
phép các chủ nô dễ dàng hơn trong việc bắt lại các nô lệ hoặc đơn giản là
bắt những người da đen mà họ tuyên bố là đã bỏ trốn. Những nô lệ miền
Bắc đã tổ chức các cuộc phản đối Đạo luật Nô lệ bỏ trốn, lên án việc Tổng
thống Fillmore ký đạo luật và Thượng nghị sỹ Daniel Webster ủng hộ.
Trong số những người chống đối có J. W. Loguen, vốn có mẹ là nô lệ và bố
là chủ nô da trắng. Loguen đã bỏ trốn với con ngựa của ông chủ, vào học
đại học, sau đó trở thành mục sư tại Syracuse, New York. Trong một cuộc
mít-tinh năm 1850, ông nói:
Đã đến lúc phải đổi từ giọng điệu thưa bẩm sang giọng thách thức, để nói
với ngài Fillmore và ngài Webster, nếu như họ định thi hành biện pháp này
đối với chúng ta, cũng như thả lũ chó săn khát máu của họ… Tôi đã nhận sự
tự do từ Chúa trời và do vậy, tôi được lệnh bảo vệ tư cách đó của tôi… Tôi
không tôn trọng gì đạo luật này. Tôi không sợ gì điều đó. Tôi sẽ không thèm
tuân theo nó! Nó đã loại tôi ra khỏi vòng pháp luật và tôi cũng loại nó ra
khỏi vòng pháp luật… Tôi sẽ không sống như một kẻ nô lệ và nếu như
người ta định dùng bạo lực để ép buộc tôi phải quay lại kiếp nô lệ, tôi sẽ
chuẩn bị sẵn sàng để đối mặt với những xung đột khi trở thành một người