nhẫn tâm; sự lên án của các vị đối với bạo chúa trở thành những hành động
trơ trẽn; tiếng hô hét của các vị về tự do và bình đẳng chỉ là trò giả tạo;
những lời cầu nguyện và các bài thánh ca, các bài thuyết giáo và lễ tạ ơn
của các vị, cũng như tất cả các buổi diễu hành, các nghi lễ tôn giáo của các
vị, đối với anh ta chỉ là những sự khoa trương, sự lừa gạt, trò dối trá, nghịch
đạo và hành động đạo đức giả – giống như một tấm màn mỏng cố che đậy
những tội ác khiến một dân tộc man rợ phải hổ thẹn. Tại thời khắc này, trên
thế giới không có một dân tộc nào lại có cách hành xử ghê tởm và đẫm máu
như những con người của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ này.
Hãy đi đến nơi mà các vị có thể đến, hãy cố gắng sục tìm, nghiền ngẫm lại
hết tất cả các chế độ quân chủ và chế độ chuyên quyền của Cựu Thế giới,
hãy đi khắp Nam Mỹ, cố gắng tìm cho ra những thí dụ về cách đối xử tồi tệ,
và cuối cùng khi các vị đã tìm ra được những điều đó, hãy đặt bên cạnh để
so sánh những sự kiện và cách hành xử hàng ngày của dân tộc này; và các
vị sẽ quả quyết nói với tôi rằng, về các hành động dã man và thói đạo đức
giả vô liêm sỉ, nước Mỹ sẽ đứng đầu và không hề có đối thủ tương xứng…
Mười năm sau cuộc nổi dậy của Nat Turner, không hề có dấu hiệu các cuộc
nổi dậy của người da đen tại miền Nam. Nhưng đến năm 1841, một vụ việc
nổ ra đã đánh thức lại tư tưởng nổi loạn. Nô lệ bị chất lên con tàu Creole đã
chế ngự thủy thủ đoàn, giết chết một tên và giong tàu đến Tây Ấn của Anh
quốc (nơi mà chế độ nô lệ đã bị bãi bỏ từ năm 1833). Nước Anh từ chối trả
lại nô lệ (ở Anh tồn tại sự ủng hộ chế độ bãi nô của Mỹ) và điều này đã dẫn
đến một cuộc tranh luận gay gắt tại Quốc hội về cuộc chiến với nước Anh,
vốn được Ngoại trưởng Daniel Webster khuyến khích. Tờ Colored Peoples
Press đã vạch rõ “lập trường hiếu chiến” của Webster và khi nhắc lại cuộc
Chiến tranh Cách mạng cũng như cuộc Chiến tranh năm 1812, nó viết:
Nếu chiến tranh xảy ra… liệu chúng ta có tham gia chiến đấu để bảo vệ một
chính phủ vốn đã từ chối cho chúng ta quyền cao quý nhất – quyền công