LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 287

các nô lệ nếu họ vẫn tiếp tục đấu tranh, đồng thời hứa hẹn sẽ không đụng
chạm đến vấn đề nô lệ ở các bang miền Bắc.

Ngày 1 tháng 1 năm 1863, tất cả những ai vẫn bị xem như nô lệ trong bất cứ
bang hoặc địa phận được phân bổ cho bang nào tham gia các cuộc nổi dậy
chống Hợp chúng quốc sẽ được tự do mãi mãi…

Như vậy, khi được công bố vào ngày 1 tháng 1 năm 1863, Tuyên bố Giải
phóng đã cho phép nô lệ được tự do tại các vùng vẫn đang có các cuộc nổi
dậy chống Liên bang (danh sách được liệt kê một cách rất thận trọng), tuy
nhiên tuyên bố đó không đả động gì đến nô lệ vẫn đang nằm bên ngoài ranh
giới của Liên bang. Như Hofstadter đã chỉ ra, Tuyên bố Giải phóng “bao
hàm vẻ oai phong về mặt đạo đức, giống như một tờ vận đơn”. Tờ London
Spectator đã viết ngắn gọn: “Nguyên tắc đưa ra là một con người không thể
làm chủ một người khác, nhưng anh ta cũng không được phép làm chủ
chính mình, trừ phi anh ta trung thành với Hợp chúng quốc”.

Với rất nhiều hạn chế, Tuyên bố Giải phóng đã khuấy động các lực lượng
chống lại chế độ nô lệ. Mùa hè năm 1864, 400 nghìn chữ ký yêu cầu các
nhà lập pháp bãi bỏ chế độ nô lệ đã được tập hợp và gửi lên Quốc hội, một
điều chưa hề có trong lịch sử nước Mỹ. Tháng 4 năm đó, Thượng viện đã
thông qua Tu chính án số 13, tuyên bố chấm dứt chế độ nô lệ và đến tháng 1
năm 1865, Hạ viện cũng làm theo.

Với Tuyên bố Giải phóng, quân đội của Liên bang đã mở rộng cho cả người
da đen. Ngày càng nhiều người da đen tham gia cuộc chiến, điều đó càng có
vẻ như cuộc chiến là để giải phóng chính họ. Càng có nhiều người da trắng
hy sinh, thì lại càng có thêm nhiều oán giận, đặc biệt đối với những người
da trắng nghèo khổ ở miền Bắc, những người mà một bộ luật cho phép
những người giàu có hơn có thể trả 300 đô-la để họ thực hiện thay chế độ
quân dịch. Những cuộc nổi loạn do quân dịch đã nổ ra vào năm 1836, chủ
yếu do những người da trắng ở các thành phố phía Bắc quá bất bình, tuy