LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 297

cục là chúng tôi vẫn phải phụ thuộc vào những người đàn ông da trắng để
có việc làm, lương thực, thực phẩm và quần áo; ông ta đã chuyển chúng tôi
từ giai đoạn nghèo khổ túng thiếu sang thân phận những kẻ hầu người hạ,
khá hơn đôi chút thân phận nô lệ.

Năm 1861, chính phủ Mỹ bắt đầu cuộc chiến chống lại các bang vẫn còn
chế độ nô lệ, nhưng không phải để chấm dứt chế độ nô lệ, mà là nhằm duy
trì lãnh thổ quốc gia, thị trường và các nguồn tài nguyên to lớn. Rõ ràng,
chiến thắng thì cần phải có một cuộc vận động lớn và cái đà của cuộc vận
động đó đã bổ sung những lực lượng mới vào hệ thống chính trị của nước
Mỹ: Có thêm nhiều người da đen cố gắng xác định rằng sự tự do của họ
phải mang một ý nghĩa gì khác; thêm nhiều người da trắng quan tâm đến
bình đẳng về chủng tộc – bất kể họ là quan chức của văn phòng phụ trách
các vấn đề về nô lệ tự do (Freedman's Bureau), các giáo viên của vùng Sea
Islands, hay các tay “đầu cơ về chính trị” (người miền Bắc hoạt động đầu
cơ chính trị ở miền Nam sau Nội chiến – ND) cố tình mập mờ giữa chủ
nghĩa nhân đạo với tham vọng cá nhân. Ngoài ra, phải kể đến sự quan tâm
mạnh mẽ của Đảng Cộng hòa trong việc duy trì sự kiểm soát đối với chính
phủ quốc gia, trong bối cảnh các cử tri da đen được tham gia bỏ phiếu ở
miền Nam. Các chủ doanh nghiệp miền Bắc nhìn nhận rằng, các chính sách
này của Đảng Cộng hòa mang lại nhiều lợi ích cho họ, nên cũng sẵn lòng
buông xuôi theo thời cuộc.

Kết quả khái quát cả một giai đoạn sau Nội chiến, mà những người da đen
bỏ phiếu ủng hộ, là nhiều người da đen đã được bầu vào các cơ quan lập
pháp của các bang và Quốc hội. Điều này đã tạo ra những tác động đối với
miền Nam, về mặt giáo dục công chúng vấn đề tự do và chủng tộc. Một
khung pháp lý đã được thiết lập. Tu chính án số 13 đã đặt chế độ nô lệ
ngoài vòng pháp luật: “Ngoài việc áp dụng trừng phạt đối với những tội mà
ai đó mắc phải và có nghĩa vụ thi hành, chế độ nô lệ hay làm công không tự
nguyện sẽ không được phép tồn tại ở Mỹ, hoặc bất cứ địa điểm nào áp dụng