Một nghiên cứu về người da đen tại Alabama trong những năm đầu sau Nội
chiến, do sử gia Peter Kolchin tiến hành, cho thấy họ gần như ngay lập tức
đã đấu tranh đòi quyền độc lập khỏi người da trắng, thông qua việc thành
lập các nhà thờ riêng, họ trở nên năng động về mặt chính trị, tăng cường các
mối quan hệ gia đình, giáo dục con cái. Kolchin không đồng ý với luận
điểm của một số sử gia khác cho rằng chế độ nô lệ đã tạo ra một tâm lý
phục tùng theo kiểu “da đen” (Sambo). “Ngay sau khi được tự do, những
người da đen vẫn bị cho là quen phụ thuộc và ngơ ngác như lũ trẻ, đã bắt
đầu hành động giống như những người đàn ông và đàn bà độc lập”.
Giờ đây người da đen đã được bầu vào các cơ quan lập pháp ở miền Nam,
dù ở trong các cơ quan này họ vẫn chiếm thiểu số, trừ trường hợp tại Hạ
viện của Nam Carolina. Một chiến dịch tuyên truyền mạnh mẽ đã được tiến
hành ở cả miền Nam và miền Bắc (chiến dịch tuyên truyền này còn kéo dài
sang thế kỷ XX và đã được ghi lại trong sách giáo khoa về lịch sử tại các
trường trung học ở Mỹ). Chiến dịch này nhằm bôi nhọ những người da đen,
rằng trong thời gian nhậm sở họ đã tỏ ra không có khả năng, tham nhũng và
tàn phá các chính phủ của các bang miền Nam. Rõ ràng là có các vụ tham
nhũng, nhưng liệu ai có thể tuyên bố rằng người da đen đã có những đầu tư
thâm hiểm về mặt chính trị, nhất là trong bối cảnh nhập nhoạng đầy rẫy
những lừa đảo về mặt tài chính ở cả miền Nam và miền Bắc sau Nội chiến.
Việc khoản nợ công của Nam Carolina từ 7 triệu đô-la năm 1865 tăng lên
29 triệu đô-la năm 1873 là một sự thật, nhưng lần đầu tiên ở bang này áp
dụng chính sách các trường học công lập miễn phí. Đến năm 1876, tại bang
này, không chỉ 50 nghìn trẻ em da trắng được đi học (con số này năm 1860
chỉ khoảng 20 nghìn) mà cả 70 nghìn trẻ em da đen cũng được đến trường
(trước kia không có trường hợp nào)..
Quyền bỏ phiếu của người da đen trong giai đoạn sau năm 1869 đã giúp lựa
chọn ra hai thượng nghị sỹ Mỹ là người da đen (Hiram Revels và Blanche