thuyết phục là không chỉ an toàn mà còn kiếm được bộn tiền từ những đầu
tư của họ vào khai thác nguồn tài nguyên giàu có, như than đá và sắt thép,
tại các vùng Alabama, Tennessee và Georgia.
Miền Bắc cần phải nhớ lại rằng họ không hề phải trải qua một cuộc cách
mạng trong tư tưởng để chấp nhận sự lệ thuộc của người da đen. Khi Nội
chiến kết thúc, 19 trong số 24 bang miền Bắc không cho phép người da đen
đi bầu cử. Đến năm 1900, tất cả các bang miền Nam, với Hiến pháp và hệ
thống luật pháp mới ghi rõ việc tước quyền bầu cử và sự chia tách người da
đen, xã luận của tờ New York Times có đoạn viết: “Người miền Bắc…
không còn lên án việc đàn áp quyền bầu cử của người da đen nữa… Sự cần
thiết của nó dưới tác động của luật tự bảo toàn đã hiển nhiên thừa nhận điều
đó.”
Dẫu không được ghi vào các bộ luật ở miền Bắc, các tư tưởng và cách hành
xử mang tính phân biệt chủng tộc vẫn còn đó. Tờ Boston Transcript ra ngày
25 tháng 9 năm 1895 có đoạn viết:
Một người đàn ông da màu khai tên là Henry W. Turner đêm qua đã bị bắt
giữ vì bị tình nghi là tên cướp trên xa lộ. Sáng nay, hắn ta bị mang đến
phòng thu hình dành cho người da đen, tại đó hắn ta bị chụp ảnh để đưa vào
bộ “Trưng bày những kẻ lừa đảo”. Điều này làm hắn ta tức giận và hắn ta
đã tạo ra điệu bộ cáu kỉnh nhất đến mức mà hắn ta có thể. Vì hắn ta tìm
cách chống lại cảnh sát trên đường bị đưa đến nơi chụp hình, hắn ta đã phải
chịu đòn vọt.
Trong văn chương thời hậu Nội chiến, hình ảnh người da đen chủ yếu được
miêu tả dưới ngòi bút của các nhà văn da trắng miền Nam. Trong tiểu
thuyết Red Rock (Núi Đá đỏ), Thomas Nelson Page, mô tả một nhân vật da
đen giống như “con linh cẩu bị nhốt trong lồng”, “loài bò sát”, “loài giun”,
“loài súc vật hoang dã”. Và lác đác những lời rao giảng mang tính bề trên
về tình bằng hữu với người da đen, chẳng hạn trong tập truyện Uncle