LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 330

dịch sốt phát ban năm 1842. Trong đợt dịch tiêu chảy năm 1832, người giàu
đã bỏ chạy khỏi thành phố, người nghèo ở lại và chết.

Những người nghèo không thể coi là các đồng minh chính trị của chính
phủ. Nhưng giống như nô lệ, hay người Anh-điêng, lúc bình thường họ gần
như vô hình, song sẽ trở thành mối đe dọa khi họ nổi dậy. Tuy nhiên, cũng
có những công dân cứng rắn hơn, có thể tạo ra những hỗ trợ vững chắc cho
hệ thống trong đó công nhân ăn lương, nông dân có đất. Ngoài ra còn có
nhân viên “cổ cồn trắng” , sinh ra trong giai đoạn thương mại phát triển, mà
Thomas Cochran và William Miller đã mô tả trong cuốn The Age of
Enterprise
(Thời đại của các doanh nghiệp):

Khoác trên người chiếc áo lông an-pa-ca màu xám, gập người trên chiếc
bàn giấy cao, tầng lớp lao động mới này làm các công việc ghi tài khoản
bên có và bên nợ, điền bảng chú giải và lưu hồ sơ, viết lách và đóng dấu
hóa đơn, phiếu thanh toán, chứng từ… Được trả lương tương xứng nên anh
ta cũng có một ít tiền dôi dư, cũng như thời gian rỗi rãi. Anh ta thường lui
tới các sự kiện thể thao và các nhà hát, quỹ tiết kiệm và công ty bảo hiểm.
Anh ta chăm chú đọc tờ New York Sun hay Herald – “những tờ báo rẻ
tiền”, với đầy rẫy các nội dung quảng cáo, thông báo của cảnh sát, chuyện
về tội phạm, những lời khuyên về nguyên tắc xã giao cho tầng lớp tư sản
mới phất…

Đây là người bảo vệ tiên phong cho một tầng lớp lao động trí óc và các nhà
chuyên môn tại Mỹ, những người tự xem bản thân là thành viên của giai
cấp vô sản, cũng như ủng hộ giai cấp đó vào thời điểm khủng hoảng.

Việc mở ra miền viễn Tây là nhờ cơ giới hóa các trang trại. Cày sắt giúp
giảm một nửa thời gian cày đất; đến những năm 1850, Công ty John Deere
đã sản xuất được 10 nghìn lưỡi cày mỗi năm. Tại Chicago, nhà máy Cyrus
McCormick mỗi năm sản xuất một nghìn máy gặt. Một người dùng liềm