LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 341

Năm 1835, 50 tổ chức công đoàn khác nhau được hình thành ở Philadelphia
và đã có một cuộc đình công khá thành công của người lao động, công nhân
các nhà máy, người đóng sách, thợ kim hoàn, người khuân vác than, người
bán thịt, nhân viên văn phòng – đấu tranh đòi giảm giờ làm xuống còn 10
tiếng/ngày. Chẳng bao lâu, luật quy định về ngày làm 10 tiếng đã được áp
dụng tại Pennsylvania và các bang khác, nhưng các luật này cũng có những
khoản quy định giới chủ có thể ký hợp đồng với người lao động về số giờ
làm việc trong ngày nhiều hơn. Luật lệ tại thời điểm đó đã tạo một hàng rào
bảo vệ vững chắc cho các hợp đồng; nó cố tình ngụy biện rằng hợp đồng
lao động là thỏa thuận tự nguyện, bình đẳng giữa hai bên.

Đầu những năm 1840, các thợ dệt tại Philadelphia – chủ yếu là dân di cư từ
Ailen – thường làm công tại nhà cho giới chủ, đã đấu tranh đòi tăng lương,
họ tấn công các công nhân từ chối đình công và thậm chí tìm cách phá
phách công việc của những người đó. Một đội cảnh sát gồm cả cảnh sát
trưởng đã bắt giữ những người đình công, nhưng điều đó đã khiến 400
người thợ dệt nổi dậy với gậy gộc và súng hỏa mai.

Tuy nhiên, giữa những tín đồ Cơ đốc giáo người Ailen và những công nhân
lành nghề bản xứ theo đạo Tin lành đã xảy ra mâu thuẫn về các vấn đề tôn
giáo. Tháng 5 năm 1844, các trận xung đột giữa người theo Đạo Cơ đốc và
người theo Đạo Tin lành đã diễn ra tại Kensington, ngoại ô Philadelphia;
những người nổi loạn ủng hộ dân bản xứ (chống lại dân nhập cư) đập phá
nơi ở của những người thợ dệt và tấn công một nhà thờ Thiên Chúa. Giới
chính trị gia trung lưu nhanh chóng tìm cách hướng các nhóm vào các đảng
phái khác nhau (những người ủng hộ dân bản xứ về phe Đảng Cộng hòa của
Mỹ, những người Ailen về phe Đảng Dân chủ), tôn giáo và chính trị của các
đảng giờ đây thay thế cho các cuộc xung đột mang tính giai cấp.

Kết quả toàn bộ quá trình này, như lời của David Montgomery, một sử gia
chuyên nghiên cứu về các cuộc nổi dậy ở Kensington, là sự chia cắt các