LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 386

đoàn đã thành lập công ty Credit Mobilier và chi cho công ty này 94 triệu
đô-la để tiến hành xây dựng, trong khi chi phí thực tế chỉ là 44 triệu đô-la.
Các cổ phiếu được bán rẻ cho các nghị sỹ để ngăn chặn việc điều tra. Đây là
gợi ý của Oakes Ames, một nghị sỹ của Massachusetts, từng là người
chuyên sản xuất xẻng, sau đó làm giám đốc của Credit Mobilier. Union
Pacific đã sử dụng 20 nghìn công nhân – gồm các cựu binh và người Ailen
nhập cư. Mỗi ngày họ phải lắp đặt năm dặm đường ray, hàng trăm người đã
chết dưới nắng nóng và giá rét, hay thiệt mạng trong các trận giao tranh với
người Anh-điêng nhằm xâm lấn lãnh thổ.

Cả hai tập đoàn đường sắt này đều làm các cung đường dài, quanh co hơn
để được nhận tiền trợ cấp từ các thành phố mà tuyến đường đi qua. Năm
1869, trong tiếng nhạc và các bài diễn văn, hai đoạn đường cong đã gặp
nhau tại Utah.

Những gian lận trắng trợn này đã dẫn đến việc hệ thống tài chính của ngành
đường sắt được các chủ ngân hàng kiểm soát chặt chẽ hơn − những người
muốn có lợi nhuận bền vững và hợp pháp, hơn là bằng các hành động ăn
cướp. Đến những năm 1890, hầu hết các đường sắt của Mỹ được quy về sáu
hệ thống quản lý lớn. Bốn trong số đó do Nhà Morgan quản lý hoàn toàn,
hoặc một phần; hai hệ thống còn lại do giới chủ nhà băng Kuhn, Loeb & Co
kiểm soát.

J. P. Morgan khởi nghiệp từ trước chiến tranh, vốn là con trai của một chủ
nhà băng, từng bán cổ phiếu đường sắt để kiếm các khoản hoa hồng hậu
hĩnh. Đến thời Nội chiến, ông đã mua năm nghìn khẩu súng trường với giá
3,5 đô-la/khẩu tại một kho vũ khí của quân đội và bán lại cho một vị tướng
ngoài chiến trường với giá 22 đô-la/khẩu. Các khẩu súng đó đều bị lỗi và
người sử dụng thường bị cướp cò. Một ủy ban Quốc hội biết việc này từ
một mẩu báo cáo không rõ nguồn gốc, nhưng vị thẩm phán liên bang lại xác
nhận rằng phi vụ này được thực hiện theo một hợp đồng hợp pháp.