LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 463

phải được hiểu theo một khía cạnh khác đôi chút so với những gì mà tác giả
ấp ủ.”

Cũng có những đối tượng quan tâm đặc biệt, những người sẽ được hưởng
lợi trực tiếp từ cuộc chiến. Tại Pittsburgh, trung tâm của ngành công nghiệp
thép, Phòng Thương mại đã vận động lực lượng và giới thương gia
Chattanooga nói rằng khả năng xảy ra chiến tranh đã “thúc đẩy việc buôn
bán thép”. Người ta cũng nhận thấy rằng “thực tế cuộc chiến sẽ thúc đẩy
mạnh mẽ các hoạt động vận tải”. Tại Washington, người ta báo cáo rằng
“tinh thần tham chiến” đã ảnh hưởng đến Bộ Hải quân, được khuyến khích
từ “các nhà thầu cung cấp đại bác, quân nhu, đạn dược và các yếu phẩm
khác, những người đã vây quanh bộ này kể từ sau vụ nổ tàu Maine”.

Russell Sage, một chủ nhà băng, nói rằng nếu cuộc chiến nổ ra thì “sẽ
không có câu hỏi kiểu như người giàu sẽ đứng ở đâu”. Một cuộc điều tra
các chủ doanh nghiệp cho thấy John Jacob Astor, William Rockefeller và
Thomas Fortune Ryan đều có “cảm giác của người lính”. Và J. P. Morgan
tin rằng đàm phán thêm với Tây Ban Nha sẽ không mang lại gì.

Ngày 21 tháng 3 năm 1898, Henry Cabot Lodge viết cho McKinley một lá
thư dài, trong đó thông báo là ông ta đã nói chuyện với “các chủ nhà băng,
người môi giới, doanh nhân, chủ bút, mục sư và những người khác” tại
Boston, Lynn và Nahant và “mọi người”, kể cả “những tầng lớp bảo thủ
nhất” đều muốn vấn đề Cuba “được giải quyết”. Lodge báo cáo tiếp: “Họ
nói rằng đối với công việc kinh doanh, thì một cú sốc và sau đó là chấm dứt
còn khả dĩ hơn là những cơn co thắt liên tiếp mà chúng ta phải chịu đựng
nếu cuộc chiến tại Cuba tiếp diễn.” Ngày 25 tháng 3, một bức điện tín đã
được một cố vấn gửi đến Nhà Trắng cho McKinley, trong đó có đoạn: “Các
tập đoàn lớn giờ đây đã tin rằng chúng ta sẽ có chiến tranh. Xin Ngài hãy
tin rằng tất cả đều chào đón nó như sự giải tỏa hồi hộp.”