người chết khi đang chiến đấu, số còn lại chủ yếu chết vì bệnh tật và các
nguyên nhân khác.
Con số tương tự cũng đã được Walter Millis đưa ra trong cuốn sách The
Martial Spirit (Tinh thần chiến tranh). Trong Encyclopedia (Bách khoa toàn
thư), các quân nhân này chỉ được nhắc đến vỏn vẹn vài dòng, và cũng
không đả động gì đến món “thịt bò ướp” (một thuật ngữ chung của quân
đội) được nhà đóng gói thịt bán cho quân đội – loại thịt được tẩm axit boric,
nitro cacbonat và các loại màu thực phẩm nhân tạo.
Tháng 5 năm 1898, Armour & Co, một công ty lớn chuyên đóng gói thịt tại
Chicago bán cho quân đội 500 nghìn kg thịt bò, mà trước đó một năm đã
được chuyển tới Liverpool nhưng rồi bị trả lại. Hai tháng sau, một thanh tra
quân đội kiểm tra thịt của công ty Armour, vốn đã được đóng dấu kiểm định
của thanh tra Cục Chăn nuôi đã phát hiện 751 thùng thịt thối rữa. Trong 60
trường hợp đầu tiên, ông ta phát hiện 14 hộp đã bị bật nắp, “thực phẩm mục
nát đã sủi bọt trong tất cả các thùng”. Hàng nghìn binh sỹ bị ngộ độc thực
phẩm. Tuy nhiên, không có số liệu nào công bố bao nhiêu trong số hơn năm
nghìn người lính chết không phải do tham chiến, mà do chính vấn đề này.
Các lực lượng Tây Ban Nha đã bị đánh bại trong vòng ba tháng, khoảng
thời gian mà John Hay, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ sau này gọi là “cuộc
chiến bé nhỏ tuyệt vời”. Quân đội Mỹ đã vờ như quân đội của lực lượng nổi
dậy Cuba không hề tồn tại. Khi quân Tây Ban Nha đầu hàng, không có
người Cuba nào được tiếp quản việc đầu hàng hoặc ký xác nhận điều đó.
Tướng William Shafter nói rằng quân nổi dậy không được phép tiến vào thủ
đô Santiago, đồng thời nói với Tướng Calixto Garcia, người lãnh đạo lực
lượng nổi dậy người Cuba rằng không phải người Cuba và bộ máy dân sự
Tây Ban Nha sẽ tiếp quản các cơ quan hành chính tại Santiago.
Nhìn chung, các sử gia Mỹ đã lờ đi vai trò của những người nổi dậy Cuba
trong cuộc chiến tranh. Trong nghiên cứu của mình, Philip Foner là người