Có một cách đó là Chủ nghĩa Taylor . Frederick W. Taylor từng làm quản
đốc cho một công ty thép, ông đã phân tích rất chặt chẽ mọi công việc trong
nhà máy và thiết kế nên một hệ thống phân chia lao động chi tiết, tăng cơ
giới hóa, áp dụng hệ thống trả lương theo sản phẩm nhằm nâng cao năng
suất và lợi nhuận. Đến năm 1911, ông xuất bản cuốn sách về “quản lý khoa
học”, trở thành tác phẩm có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến thế giới kinh
doanh. Giờ đây bộ máy quản lý có thể kiểm soát từng chi tiết về năng lực và
thời gian của công nhân trong một nhà máy. Trong cuốn Labor and
Monopoly Capital (Lao động và tư bản độc quyền), Harry Braverman cho
rằng mục tiêu của Chủ nghĩa Taylor là làm cho những người công nhân có
thể hoán đổi nhau, có thể làm những công việc đơn giản mà đơn vị lao động
mới đòi hỏi – giống như các bộ phận tiêu chuẩn nhằm tước đoạt tính cá
nhân và nhân văn, đồng thời có thể mua và bán như các hàng hóa.
Hệ thống đó phù hợp với ngành công nghiệp mới là ngành ôtô. Năm 1909,
Ford đã bán 10.607 ôtô; năm 1913 là 168 nghìn; năm 1914 là 248 nghìn
(chiếm 45% tổng các loại ôtô đã được sản xuất). Lợi nhuận đạt tới 30 triệu
đô-la.
Do người nhập cư chiếm một tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động (tại các nhà
máy Carnegie ở quận Allegheny năm 1907, trong số 14.359 lao động phổ
thông có đến 11.694 người đến từ Đông âu), cùng với công việc được đơn
giản hóa và không đòi hỏi nhiều kỹ năng, thì chủ nghĩa Taylor càng trở nên
khả thi.
Tại thành phố New York, những người mới nhập cư thường phải làm việc
tại các cơ sở bóc lột công nhân một cách tàn tệ. Tháng 1 năm 1907, nhà thơ
Edwin Markham đã viết trên tạp chí Cosmopolitan:
Trong các căn phòng thiếu không khí, các bà mẹ và ông bố ngày đêm cặm
cụi khâu. Những người làm việc trong các xí nghiệp tại gia này thường