một chiếc khiên bảo vệ giữa tầng lớp trên cùng và tầng lớp dưới đáy của xã
hội. Một nghiên cứu về người nhập cư tại New York, từ năm 1905-1915 cho
thấy có tới 32% người ý và Do Thái đã thoát khỏi tầng lớp lao động chân
tay và chuyển lên tầng lớp cao hơn (dù không phải là các tầng lớp quá cao).
Nhưng cũng có một thực tế là rất nhiều dân nhập cư gốc ý không có đủ cơ
hội để ở lại. Chỉ trong khoảng thời gian bốn năm, cứ 100 người ý thì có tới
73 người phải rời bỏ New York, dù vẫn có những người ý trở thành công
nhân xây dựng, người Do Thái trở thành các doanh nhân hoặc nhà chuyên
môn, tạo ra một “bước đệm” trung lưu cho cuộc xung đột về giai cấp.
Tuy nhiên, những điều kiện nền tảng vẫn không thay đổi đối với phần đa
nông dân tá điền, công nhân nhà máy, những người sống trong các khu ổ
chuột, công nhân mỏ, lao động tại các trang trại, nam giới và phụ nữ thuộc
tầng lớp lao động, người da đen và da trắng. Sử gia Robert Wiebe đã nhìn
thấy qua phong trào Tiến bộ nỗ lực của hệ thống đối với việc điều chỉnh các
điều kiện đang thay đổi nhằm đạt được sự ổn định hơn. “Thông qua những
luật lệ với sự phê chuẩn vô cảm, nó đã cố tìm kiếm sự tiếp nối và tính tiên
đoán được, trong một thế giới đầy biến động. Nó dành cho chính phủ quyền
lực mạnh mẽ hơn… và khuyến khích sự tập trung quyền lực.” Harold
Faulkner đã đưa ra kết luận này khi muốn nhấn mạnh việc chính phủ mạnh
chỉ là nhằm đem lại lợi ích cho “một số nhóm kinh tế có quyền lực mạnh
mẽ nhất”.
Gabriel Kolko đã gọi điều này là sự xuất hiện của “chủ nghĩa tư bản về mặt
chính trị”, trong đó các chủ doanh nghiệp kiểm soát hệ thống chính trị một
cách chắc chắn, bởi vì hệ thống kinh tế tư nhân chưa đủ mạnh để chặn trước
những phản đối từ bên dưới. Kolko nói, các doanh nghiệp không chống lại
các cuộc cải cách mới; họ chính là những người tạo ra chúng, thúc đẩy
chúng, để ổn định hệ thống tư bản trong một giai đoạn bất ổn.