LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 536

thường cho công nhân ở New York là vi hiến vì nó đã lấy đi tài sản của các
tập đoàn mà không có sự xem xét về mặt luật pháp, Theodore Roosevelt rất
tức giận. ông ta nói rằng, những phán quyết như thế “sẽ chỉ làm tăng thêm
sức mạnh cho Đảng Xã hội”. Đến năm 1920, 42 bang đã thông qua luật về
bồi thường này. Weinstein nói: “Điều đó thể hiện sự chín chắn và tinh vi
của rất nhiều lãnh đạo các tập đoàn lớn, như Theodore Roosevelt vẫn
thường nói với họ rằng, cách mạng xã hội thật sự mang tính bảo thủ.”

Còn Hội đồng Thương mại Liên bang, được Quốc hội thành lập năm 1914
lẽ ra là để điều chỉnh các công ty hợp nhất; một lãnh đạo của NCF báo cáo
lại rằng sau một số năm kinh nghiệm cho hay hội đồng này “chủ yếu hoạt
động nhằm bảo đảm sự tin tưởng của các doanh nhân có thiện ý, thành viên
của các tập đoàn lớn, cũng như các thành viên khác”.

Trong giai đoạn này, thông qua các cuộc cải cách, các thành phố cũng dành
thêm nhiều quyền lực cho các hội đồng thành phố hơn là cho các thị trưởng,
hoặc thuê tuyển những nhà quản lý thành phố. ý tưởng là tạo thêm tính hiệu
quả và ổn định. “Mục đích cuối cùng của các phong trào là đặt bộ máy quản
lý thành phố một cách chắc chắn vào tay của giai cấp kinh doanh”,
Weinstein nói. Những gì mà các nhà cải cách cho là dân chủ hơn trong
chính quyền thành phố, thì sử gia Samuel Hays thấy đó chỉ là sự tập trung
quyền lực hơn nữa vào tay một số người, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp và những nhà chuyên môn kiểm soát chính quyền thành phố một
cách trực tiếp hơn.

Phong trào Tiến bộ, dù được những nhà cải cách trung thực lãnh đạo như
Thượng nghị sỹ Robert La Follette của tiểu bang Wisconsin, hay những
người bảo thủ ngụy trang như Roosevelt (người đã thay mặt Đảng Tiến bộ
tham gia tranh cử tổng thống vào năm 1912), dường như đều có chung suy
nghĩ là né tránh chủ nghĩa xã hội. Tờ Milwaukee Journal, cơ quan phát
ngôn của phong trào Tiến bộ, đã chỉ trích những người theo trường phái bảo