Quay lại năm 1907, Woodrow Wilson đã có một bài thuyết trình tại Đại học
Tổng hợp Columbia: “Sự nhượng bộ các nhà tài phiệt giành được cần phải
được các bộ trưởng của nhà nước bảo vệ … Cánh cửa của những dân tộc
vẫn đang đóng kín cần phải được dỡ bỏ.” Trong cuộc vận động tranh cử
năm 1912, ông ta nói: “Thị trường trong nước của chúng ta không đủ,
chúng ta phải cần đến các thị trường ở nước ngoài.” Trong thư gửi Bryan,
ông ta đã mô tả mục tiêu của mình giống như “một cánh cửa mở ra thế
giới”, và đến năm 1914 thì tuyên bố ủng hộ “cuộc xâm lược chính đáng các
thị trường nước ngoài”.
Với Chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Anh càng ngày càng trở thành một
thị trường cho hàng hóa và các khoản vay nặng lãi. J. P. Morgan & Co đóng
vai trò như là người trung gian cho các Đồng minh và đến năm 1915, khi
Wilson bãi bỏ lệnh cấm các khoản vay cá nhân cho các Đồng minh, thì
Morgan đã có thể giải ngân các khoản vay lớn đến mức một mặt có thể thu
được những khoản lợi nhuận khổng lồ, mặt khác cột chặt nền tài chính Mỹ
với các lợi ích từ chiến thắng của Anh trong cuộc chiến chống Đức.
Các nhà công nghiệp và các lãnh đạo chính trị đã nói về sự phát đạt như thể
điều đó không liên quan gì đến vấn đề giai cấp, dường như là mọi người
đều được hưởng lợi từ các khoản cho vay của Morgan. Sự thật, chiến tranh
có nghĩa là đòi hỏi nhiều hơn các hoạt động sản xuất, thêm nhiều công ăn
việc làm, nhưng liệu công nhân trong các nhà máy luyện thép có kiếm được
nhiều như tập đoàn U.S. Steel − chỉ riêng trong năm 1916, lợi nhuận mà tập
đoàn này thu được đã là 348 triệu đô-la? Khi nước Mỹ bắt đầu tham chiến,
những người giàu càng gắn bó mật thiết với các trách nhiệm của nền kinh
tế. Nhà tài phiệt Bernard Baruch đã đứng đầu Ủy ban Công nghiệp Chiến
tranh (War Industries Board), cơ quan được xem là quyền lực nhất trong
chính phủ thời chiến. Các chủ nhà băng, chủ đường sắt và các nhà công
nghiệp chi phối cơ quan này.