LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 586

nhiên, trong nghiên cứu The Great Crash (Đại suy thoái), John Galbraith
nhận định rằng có một sự thật ẩn chứa đằng sau nạn đầu cơ ấy, đó là “nền
kinh tế về căn bản không hoàn thiện”. ông chỉ ra sự yếu kém trong tổ chức
và cơ cấu ngân hàng, sự thiếu vững chắc trong ngoại thương, các thông tin
kinh tế sai lệch cùng việc “phân phối thu nhập không công bằng” (khoảng
5% số người có địa vị cao nhất nắm giữ một phần ba tổng thu nhập của toàn
dân số).

Một nhà phê bình xã hội đã tiến xa hơn khi nói rằng hệ thống tư bản chủ
nghĩa xét về bản chất còn nhiều khiếm khuyết: một hệ thống được điều
khiển bởi động cơ xem trọng lợi nhuận hơn tất thảy và do đó nó hoàn toàn
không mang tính ổn định, khó đoán trước cũng như không chú ý đến nhu
cầu của con người. Và kết quả mà tất cả những thứ đó mang lại là sự suy
sụp vĩnh viễn của nhiều người, cùng các cuộc khủng hoảng mang tính định
kỳ cho hầu hết tất cả mọi người. Chủ nghĩa tư bản, cho dù có cố gắng cải
cách và cơ cấu nhằm kiểm soát tốt hơn thì vẫn luẩn quẩn trong một hệ
thống ốm yếu và không đáng tin cậy của năm 1929.

Sau giai đoạn khủng hoảng, nền kinh tế bị chao đảo, gần như giẫm chân tại
chỗ. Hơn năm nghìn nhà máy dệt bị đóng cửa và vô số các ngành kinh
doanh khác, do không thể tạo ra lợi nhuận, cũng buộc phải ngừng hoạt
động. Các doanh nghiệp tiếp tục sa thải công nhân và cắt giảm tiền công
của những người ở lại, hết lần này tới lần khác. Sản xuất nông nghiệp giảm
50%, và vào năm 1933, có khoảng 1,5 triệu người (không ai nắm được con
số chính xác) – chiếm khoảng một phần ba hoặc một phần tư lực lượng lao
động – rơi vào tình trạng thất nghiệp. Công ty Ford Motor, vào mùa xuân
năm 1929 có tới 128 nghìn công nhân, đến tháng 8 năm 1931 chỉ giữ lại
khoảng 37 nghìn người. Cuối năm 1930, gần một nửa trong số 280 nghìn
công nhân dệt ở New England không có việc làm. Cựu Tổng thống Calvin
Coolidge đã bình luận về tình trạng đó với sự từng trải vốn có của mình:
“Khi càng lúc càng có nhiều người bị ném ra khỏi công việc, thất nghiệp tất