Vũ khí chủ yếu của Ủy ban là lực lượng dân chủ đông đảo, có chức năng
ngăn chặn việc tịch thu tài sản của người nghèo, gây áp lực lên Hội đồng
Cứu trợ, buộc tổ chức này phải tìm nơi ở mới cho những trường hợp bị tịch
thu nhà cửa, đàm phán với các cơ quan hữu quan về việc cắt gas và điện
nước đối với những người thất nghiệp không có đủ tiền chi trả, gặp gỡ
những con người nghèo khổ và trao cho họ quần áo và giày dép, loại bỏ và
ngăn chặn nạn phân biệt chủng tộc giữa người da đen, da trắng và người
ngoại quốc thông qua tuyên truyền. Đối với các vấn đề về trợ cấp... Ủy ban
tổ chức diễu hành tới các trụ sở trợ cấp và yêu cầu họ cung cấp thức ăn,
quần áo. Cuối cùng, Ủy ban mang đến sự bảo hộ hợp pháp cho tất cả những
người thất nghiệp bị bắt khi tham gia các cuộc diễu hành, biểu tình hay mít-
tinh của công đoàn.
Người dân tự tổ chức để cứu lấy chính mình, bởi lẽ các doanh nghiệp và
chính phủ đã bỏ rơi họ trong những năm 1931-1932. Ở Seattle, tổ chức của
các ngư dân đã đổi số cá mà họ đánh bắt được cho những người trồng rau,
hoa quả và những người chặt gỗ cũng làm như vậy. Tại 22 địa phương, nơi
nào cũng có một quầy hàng, ở đó mọi người có thể trao đổi thực phẩm và
gỗ để lấy các nhu yếu phẩm và dịch vụ khác như: cắt tóc, may mặc; các bác
sỹ khám chữa bệnh để đổi lấy hàng hóa. Cuối năm 1932, có 330 tổ chức tự
cứu trợ trên 37 bang, với hơn 300 nghìn thành viên. Đầu năm 1933, các tổ
chức dần bị tan rã, song các hoạt động của chúng đã đóng góp không nhỏ
cho nền kinh tế đang ngày càng kiệt quệ.
Thí dụ nổi bật nhất về phong trào này là thị trấn khai thác than ở
Pennsynvania, các nhóm thợ mỏ tự động khai thác các mỏ than nhỏ thuộc
quyền sở hữu của công ty, vận chuyển về các thành phố và bán với giá thấp
hơn ngoài thị trường. Đến năm 1934, 5 triệu tấn than “lậu” do 20 nghìn thợ
mỏ khai thác đã được dùng cho hơn bốn nghìn phương tiện. Sau một loạt cố
gắng nhằm truy tố những người thợ mỏ này, các bồi thẩm đoàn ở các địa
phương đã không buộc tội hay bỏ tù bất cứ ai.