đây không hoàn toàn là một pháp chế nhằm gạt bỏ tư tưởng “vấn đề của
người lao động phải do người lao động tự giải quyết”? Các doanh nghiệp
lớn cho rằng họ đã giúp đỡ quá nhiều cho tầng lớp lao động và do đó họ
không chấp nó. Roosevelt thì khá thờ ơ. Tuy nhiên, đến đầu năm 1934, một
loạt cuộc đấu tranh bùng phát đã cho thấy nhu cầu phải thực thi đạo luật
này.
Năm 1934, 1,5 triệu công nhân đã đổ xuống đường đình công. Đó là vào
giữa mùa xuân và mùa hè, trong một cuộc biểu tình phản đối lãnh đạo liên
đoàn cũng như chống lại các chủ thuyền, hàng loạt công nhân bến tàu ở bờ
biển phía Tây của nước Mỹ đã tổ chức hội nghị, yêu cầu bãi bỏ chế độ
tuyển dụng theo thời vụ (một loại hình sơ khai của thị trường nô lệ, trong đó
các nhóm người lao động được thuê theo ngày) và cùng nhau biểu tình.
Hai nghìn dặm bờ biển Thái Bình Dương nhanh chóng bị phong tỏa. Các tài
xế xe tải tham gia bằng cách từ chối chở hàng hóa ra bến tàu, nhóm công
nhân hàng hải cũng nhanh chóng gia nhập đoàn người đình công. Khi cảnh
sát tới để giải tỏa các bến tàu, những người biểu tình đã chống cự lại, kết
quả là hai người thiệt mạng do trúng đạn của cảnh sát. Khoảng 10 nghìn
người đã có mặt tại đám tang tưởng niệm những người xấu số. Ngay sau đó,
một cuộc bãi công khác nổ ra ở San Francisco, với 130 nghìn người tham
gia, khiến thành phố gần như tê liệt. Lực lượng gồm 500 cảnh sát đặc
nhiệm, 4.500 Cảnh vệ Quốc gia cùng nhiều đơn vị bộ binh, súng máy, xe
tăng và pháo binh được huy động. Los Angeles Times viết:
Nếu chỉ dùng cụm từ “tổng đình công” thì không thể diễn tả hết những gì
đang diễn ra ở San Francisco. Đó thật sự là một cuộc nổi dậy mang tinh
thần Cộng sản chống lại chính phủ. Giờ chỉ còn một cách duy nhất để ngăn
chặn, đó là trấn áp cuộc nổi loạn bằng mọi lực lượng cần thiết.
áp lực ngày càng gia tăng. Quân đội và AFL đã ép buộc công nhân bến tàu
phải kết thúc cuộc bãi công, chấp nhận thỏa hiệp. Song những người lao