lập trong thời gian này, với mục tiêu giúp xây dựng lại các khu vực bị chiến
tranh tàn phá, tuy nhiên mục tiêu thật sự của ngân hàng này, theo như cách
diễn đạt của riêng nó “là để thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài”.
Việc hỗ trợ kinh tế cho những nước cần tái thiết sau chiến tranh đã bị nhìn
nhận theo góc độ chính trị. Năm 1944, Averell Harriman, đại sứ Mỹ tại Nga
phát biểu: “Hỗ trợ kinh tế là một trong những thứ vũ khí hiệu quả nhất để
gây ảnh hưởng đến các sự kiện chính trị ở châu âu theo hướng mà chúng ta
mong muốn.”
Trong thời gian diễn ra chiến tranh, Liên Hiệp Quốc với tư cách là một tổ
chức hợp tác quốc tế đã được thành lập nhằm ngăn chặn các nguy cơ chiến
tranh trong tương lai. Tuy nhiên, Liên Hiệp Quốc lại nằm dưới quyền kiểm
soát của các nước phương Tây − điển hình là Mỹ, Anh, Pháp cùng một đế
quốc mới hùng mạnh, với lực lượng quân sự hùng hậu và tầm ảnh hưởng
rộng khắp tại Đông âu – đó là Liên Xô. Arthur Vandenburg, một thượng
nghị sỹ cấp cao bảo thủ thuộc Đảng Cộng hòa, đã bày tỏ quan điểm của
mình về Hiến chương Liên Hiệp Quốc trong hồi ký của mình như sau:
Điều đáng ngạc nhiên là Hiến chương này lại được xuất phát từ tư tưởng
dân tộc bảo thủ. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào sự liên minh của bốn cường
quốc… Đó có thể là bất cứ thứ gì ngoại trừ một giấc mơ cuồng tín về một
nhà nước chung cho cả thế giới… Tôi thật sự bị ấn tượng (và ngạc nhiên)
khi thấy Hull khăng khăng bảo vệ quyền phủ quyết của người Mỹ theo cách
riêng của ông ta.”
Số phận của người Do Thái ở nước Đức – và trên toàn châu âu, vốn dĩ vẫn
được coi là mục đích của cuộc chiến chống lại phe Trục (Đức – ý – Nhật),
dường như không phải là mối quan tâm hàng đầu của Roosevelt. Nghiên
cứu của Henry Feingold (trong The Politics of Rescure) đã chỉ ra rằng,
trong khi những người Do Thái bị đẩy vào các trại tập trung và các cuộc tàn
sát do Phát-xít Đức tiến hành đã dẫn đến cái chết của sáu triệu người Do