LỊCH SỬ DÂN TỘC MỸ - Trang 713

sản riêng của cá nhân hay của một nhóm các cá thể nào cả. Điều này đòi hỏi
phải triệt tiêu các mối quan hệ tài sản tư bản trong cộng đồng người da đen
và thay thế chúng bằng một nền kinh tế công cộng có kế hoạch.

Một người phụ nữ gốc Phi tên là Patricia Robinson viết trong một cuốn
sách được xuất bản tại Boston vào năm 1970 mang tựa đề Poor Black
Woman (Người phụ nữ da đen nghèo khổ) đã liên tưởng chủ nghĩa tư bản
với thói gia trưởng của người đàn ông, và nói với người phụ nữ da đen đó
“hãy tự liên kết với những người nghèo trên thế giới rộng lớn hơn cùng với
những cuộc cách mạng của họ.” Bà đã nói người phụ nữ da đen nghèo
không phải là “vấn đề về hệ thống kinh tế và xã hội” trong quá khứ, nhưng
hiện tại và trên thực tế, cô ấy phải “bắt đầu đặt vấn đề với sự thống trị đầy
áp đặt của đàn ông và của tầng lớp xã hội đã ép buộc nó ‒ chủ nghĩa tư
bản”.

Margaret Wright, một người phụ nữ da đen khác nói rằng bà ta không chiến
đấu đòi sự công bằng với đàn ông nếu điều đó bao hàm ý nghĩa công bằng
trong một thế giới giết chóc và cạnh tranh. “Tôi không muốn cạnh tranh
trong vị trí lợi dụng đáng ghê tởm. Tôi không muốn lợi dụng bất kỳ ai... Tôi
muốn quyền được là người da đen và là chính mình...”

Hệ thống xã hội đang hoạt động vất vả trước thời điểm cuối những năm
1960 và đầu những năm 1970, để kiềm chế nguy cơ bùng nổ tiềm tàng
những phản ứng của người da đen. Đông đảo người da đen đã tham gia bầu
cử tại các bang miền Nam. Và vào năm 1968, trong cuộc bầu cử của Đảng
Dân chủ, ba người da đen đã được bầu vào đại cử tri của bang Mississippi.
Đến năm 1977, có hai nghìn người da đen làm việc trong các cơ quan hành
chính nhà nước tại 11 tiểu bang của miền Nam (năm 1965 con số này là 72
người). Trong số đó có hai đại biểu Quốc hội, 11 thượng nghị sỹ bang, 95
đại cử tri, 267 ủy viên hội đồng hạt, 76 thị trưởng, 824 thành viên hội đồng
thành phố, 18 cảnh sát trưởng, 508 thành viên ủy ban giáo dục. Đó là một