LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ LÊ LỢI KHỞI NGHĨA ĐẾN NGUYỄN SUY VONG - Trang 54

đặt chức chưởng-dinh, chưởng-cơ, cai-cơ, cai-đội coi việc binh.

Thi cử : Năm 1647, Chúa Nguyễn mở khoa thi Chính-đồ và thi hoa-

văn. Chính-đồ thì đệ nhất thi tứ-lục, đệ nhị thi thơ phú, kỳ đệ tam thi văn
sách. Những quyển đậu chia ra ba hạng : hạng thứ nhất gọi là Giám-sinh
được bổ tri-phủ, tri-huyện ; hạng nhì gọi là Sinh-đồ được bổ huấn-đạo ; hạng
thứ ba cũng gọi là Sinh-đồ được bổ Lễ-sinh hoặc nhiêu-học. Còn thi hoa-văn
cũng thi ba ngày : mỗi ngày chỉ phải làm 1 bài thơ. Ai đậu, được bổ làm việc
ở tam-ty.

Năm 1695, Chúa Nguyễn phúc-Chu mở khoa thi ở trong phủ Chúa gọi

là thi Văn-chức và thi tam ty. Văn-chức thì thi tứ-lục, thơ phú và văn-sách ;
tam ty thi về Sá-sai-ty hỏi việc binh lính, tiền-lương, từ-tụng ; về Tướng-
thần-lại-ty và Lịnh-sử ty chỉ thi một bài thơ.

Năm 1740, Vũ-vương Nguyễn phúc-Khoát định lại phép thi : đậu kỳ

đệ-nhất gọi là nhiêu-học, được miễn sai 5 năm ; đậu kỳ đệ-nhị và kỳ đệ-tam
được miễn sai chung thân, đậu kỳ đệ-tứ gọi là hương cống được bổ tri-phủ,
tri-huyện.

Việc vũ-bị : Chia quân làm 5 cơ : trung, tả, hữu, tiền, hậu cơ. Số quân

độ non ba vạn người. Năm 1631, Chúa Sãi lập ra sở đúc súng đại-bác và mở
trường bắn, tập voi, tập ngựa.

Việc thuế khoá : Điền thổ chia ra làm 3 hạng để đánh thuế. Hạng

ruộng đất xấu gọi là thu-điền, khô-thổ, chịu thuế nhẹ hơn hạng đất thường.
Công điền thì đem cấp cho dân cầy cấy để nộp thuế. Đất hoang ai khai khẩn
thành ruộng, cho là tư-điền.

Đánh thuế các mỏ : mỏ vàng ở Quảng-nam, Thuận-hoá, mỏ bạc ở

Quảng-nghĩa, mỏ sắt ở Bố-chính.

Các tầu ở Thượng-hải, Quảng-tây đến phải nộp 3.000 quan, lúc đi phải

nộp 300 quan ; tầu ở Ma-cao, Nhật-bản lại phải nộp 4.000 quan, lúc đi nộp
400 quan ; tầu ở tiêm-la (Siam), ở Lã tống lại, phải nộp 2.000 quan, lúc đi
nộp 200 quan ; tầu ở các nước phương tây lại, phải nộp 8.000 quan, lúc về