MẢNH VỤN VĂN HỌC SỬ - Trang 119

- Tục ngữ, Cổ ngữ, Gia ngôn (1897, 95tr.), B.I.

- Câu hát góp * (1904, bản in lần thứ 3, 32tr. Ca dao), B.I.

- Ca trù thể cách (1907, 39tr. Quấc âm thi tập. Rút trong các xấp văn
chương), B.I.

- Thơ mẹ dạy con (1907, 11tr. Bổn cũ dọn lại, phụ thêm), B.I.

PHIÊN ÂM :

- Trần Sanh diễn ca * (1905, bản in lần thứ 2, 61tr. Bổn cũ dọn lại), B.I.

- Chiêu Quân cống Hồ (1906, 40tr. Bổn cũ dọn lại), B.I.

- Thoại-Khanh Châu-Tuấn truyện (1906, in lần thứ 2, 28tr., Bổn cũ dọn lại),
B.I.

- Bạch Viên, Tôn Các truyện. Phụ « Chinh phụ ngâm » (1906, in lần thứ 5,
36tr. Bổn cũ dọn lại), B.I.

- Văn Doãn diễn ca * (1906, in lần thứ 3, 100tr. Bổn cũ thứ nhứt. Thứ nhì
sửa lại xuôi câu, xuôi vần), B.I.

- Tống Tử Vưu truyện * (1907, in lần thứ 4, 33tr. Bổn cũ dọn lại), B.I.

- Maximes et proverbes * (1882, 35tr.), B.I.

Có phải chăng đây là bản Pháp văn của một phần quyển « Tục ngữ, Cổ

ngữ, Gia ngôn » ?

Theo VŨ NGỌC PHAN, Bộ « Việt-Pháp tự điển » của PAULUS CỦA

là một bộ tự điển mà gần đây cả người Bắc lẫn người Nam vẫn còn dùng »

150

. Chúng tôi ngờ rằng có sự nhầm lẫn, vì H.T.C. có bộ « Đại-Nam quấc âm

tự vị », còn « Việt-Pháp tự điển » là của TRƯƠNG VĨNH KÝ mà V.N.P. có
nhắc lại ở mấy trang sau.

Ông PHẠM THẾ NGŨ có dẫn « Quan âm diễn ca » theo Georges

CORDIER (đã dẫn sai cuốn « Gia lễ quan chế ») nhưng chúng tôi không
tìm thấy trong B.I.