tên: tiếng hót giống như tác giả đã tả. Theo tai chúng tôi, thì nó hót: chè xôi
chuối – thịt; tiếng thịt đổ xuống thật mau. Trong Nam này hình như vào
mua xuân, ở đồng quê và ngay của Sài Gòn, có một loài chim hót nghe
cũng rất thích. Hỏi ra cũng không ai biết tên, có người gọi nó là chim bồ
côi vì tiếng hót nghe y nghe: père, frère, mẻre tout est perdu (cha, anh, mẹ,
mất cả rồi), sau mỗi tiếng père, frère, mère ngừng lại một chút rồi tout est
perdu dồn một hơi rất gấp.
Chúng tôi không hiểu rõ ý của tác giả trong đoạn này. Mấy hàng trên
mới nói cái thú nhàn đàm là giữ được cái giọng ung dung, nhàn thích, thân
mật. Đây lại nói là cần được trút hết nỗi phẫn uất một cách kịch liệt. Phải
chăng nhàn đàm tặng ta cả hai thú đó?
Tôi tạm thêm chữ “không” (có lẽ sách in thiếu), vì nguyên tác tiếng
Anh như sau: “There is no question but we need the presence of women in
a cultured conversation, to give it the necessary frivolity which is the soul
of conversation. Without frivolity and gaiety, conversation soon becomes
heavy and philosophy itself becomes foolish and a stranger to life.
(Goldfish).
Về tên tác giả của tiểu phẩm Chử tuyền
煮泉 小品 , trong Sinh hoạt
đích nghệ thuật chép là Điền Nghệ Hằng
田藝恆 , nhưng có tài liệu chép là
Điền Nghệ Hành
田藝衡 . (Goldfish).
Ở đây tôi bỏ một đoạn dài hơn một trang nói về cách nấu nước và pha
trà mà nhiều người đã viết, chẳng hạn Nguyễn Tuân trong “Vang bóng một
thời”.
Ý nói trà rất dễ nhiễm (hấp phụ) mùi hương. Nguyên văn tiếng Anh:
“tea, most susceptible to contamination of flavors”. (Goldfish).
Tiểu thuyết gia Anh (1811-1863), viết loại nào cũng thành công, có vẻ
châm biếm, cay độc hơn Dickens.
Bỏ một đoạn trên ba trang, trong đó tác giả kể lại một lần bỏ thuốc lá.
Trong nguyên tác tiếng Anh, là Stalin, Hiller và Mussolini (trang 241).
(Goldfish).
Sách in là: “Một tôn giáo bất cận nhân tình là một chính trị điên
khùng”, và tôi tạm sửa lại như trên. Nguyên văn tiếng Anh: “An inhuman