NGUYÊN LÝ THỨ NĂM - Trang 342

chúng ta nói về điều gì đó, thì đây chính là một giả định chưa được ngừng
hay “treo”. Người điều phối cũng phải giữ cho cuộc đối thoại tiếp diễn.
Nếu bất kỳ cá nhân nào bắt đầu chuyển đổi quy trình thành một cuộc thảo
luận khi một cuộc thảo luận không thật sự cần thiết[10], thì cần phải nhận
ra điều đó, và cả nhóm hỏi xem những điều kiện đối thoại còn được tiếp tục
duy trì hay không. Người điều phối luôn giữ chừng mực giữa khả năng
“thành thạo” và khả năng “giúp đỡ” trong tiến trình, tuy nhiên không cần
đến vẻ ngoài “chuyên gia” hay “bác sĩ”[11] làm đổi hướng chú ý của các
thành viên khỏi các ý kiến và trách nhiệm của chính họ[12].

[9]. Nguyên văn là facilitator, mang ý nghĩa “một người tạo điều kiện

thuận lợi cho một điều gì đó, một việc gì đó” - ND.

[10]. Tức là một cá nhân chuyển cuộc đối thoại (dialogue) thành một

cuộc thảo luận (discussion), trái với nhu cầu ban đầu của nhóm - ND.

[11]. Ý nói người điều phối đơn thuần chỉ là một người tạo điều kiện

dễ dàng cho đối thoại, chứ không được đóng vai trò của một nhà chuyên
gia, chỉ đạo những người khác trong đối thoại - ND.

[12]. Xem E. Schein, Process Consultantion, vol 2 - Tư vấn quy trình,

tập 2, (NXB Addison Wesley, Reading, Mass), 1987

Nhưng, trong đối thoại, người điều phối còn làm nhiều việc hơn thế.

Sự hiểu biết của anh ta về đối thoại cho phép anh ta tác động đến dòng chảy
phát triển một cách đơn giản thông qua sự tham gia. Ví dụ như, sau khi có
ai đó đã nêu một sự quan sát, anh ta có thể nói “Nhưng nội dung ngược lại
cũng có thể đúng”. Ngoài những nhắc nhở như thế về những điều kiện đối
thoại, sự tham gia của người điều phối giải thích đối thoại. Nghệ thuật đối
thoại nằm ở việc trải nghiệm dòng chảy ý nghĩa (flow of meaning) và nhìn
ra điều cần phải nói vào lúc đó. Cũng như những người theo tôn giáo
Quaker ra lệnh cho các thành viên nói ra không chỉ đơn giản điều vừa xuất