512
無量壽經 - 漢字
&
越語
N
ẾU MUỐN PHẬT PHÁP HƯNG, DUY CHỈ CÓ TĂNG KHEN TĂNG!
Long Vương nên biết! Mười nghiệp thiện ấy hay khiến mười LỰC
(25)
, b
ốn
pháp VÔ ÚY
(26)
, mười tám pháp BẤT CỘNG
(27)
cùng h
ết thảy Phật pháp đều
được viên mãn. Vì thế, các ông nên siêng tu học!
Này Long Vương! Ví như hết thảy thành, ấp, làng, xóm,… đều y [nương
t
ựa] vào đại địa mà được an trụ, hết thảy dược thảo, cỏ cây, rừng rú cũng y vào
đại địa mà được sinh trưởng; mười thiện đạo ấy cũng lại như thế: Hết thảy nhân,
thiên
[đều] y vào đó mà an lập; hết thảy Thanh-văn [Bồ-đề], Độc-giác Bồ-đề, mọi
h
ạnh Bồ-tát và hết thảy Phật pháp cùng y vào đại địa của mười thiện mà được
thành t
ựu!”.
Đức Phật nói kinh này rồi, Sa-Kiệt-La Long Vương cùng toàn thể đại
chúng h
ết thảy thế gian thiên, nhân, A-tu-la,... đều rất hoan hỷ, tín thọ phụng
hành.
---o0o---
Chú thích Kinh Th
ập Thiện Nghiệp Đạo của Hòa thượng Thích Tâm Châu:
Ph
ần trong dấu “[…]” là phần diễn giải ý nghĩa, không có trong nguyên văn
b
ản dịch của Hòa thượng Thích Tâm Châu.
1) Kinh Th
ập Thiện Nghiệp Đạo là cuốn kinh số 600 trong Đại Tạng Kinh do Ngài
Th
ật-Xoa-Nan-Đà (Siksànanda: Trung Hoa dịch là Học Hỷ) dịch từ Phạn văn ra Hán
văn.
2)
Chính tôi được nghe: Là lời Tôn giả A Nan tự xưng. Ít lâu sau khi đức Phật nhập
Ni
ết Bàn, chư vị Thánh Tăng nhóm họp lại để kết tập những lời Phật dạy. Tôn giả A
Nan được đề cử tụng Kinh Tạng, do đó, đầu mỗi kinh đều có ghi câu “Chính tôi được
nghe”, để chứng tín.
3) Sa-Ki
ệt-La (Sàgara): Tàu dịch là Hàm Hải (bể nước mặn) [biển khổ sanh tử].
4) T
ỳ-kheo (Bhiksu): Trung Hoa dịch là “Khất sĩ”. Nghĩa là người tu hành, trên cầu
đạo của chư Phật để tu tỉnh, dưới đi xin ăn nơi quần chúng để tiện hóa độ. Tỳ-kheo
có hai phái: Phái nam g
ọi là Tỳ-kheo giữ 250 giới. Phái nữ gọi là Tỳ-kheo-ni
(Bhiksuni) gi
ữ 348 giới. B
ồ-tát (Bodhisattva): Gọi đủ là Bồ-đề-tát-đỏa. Trung Hoa
d
ịch nghĩa là “Giác hữu tình”. Nghĩa là những vị phát đại tâm, vì chúng sanh mà cầu
Đạo Vô Thượng và luôn luôn giác ngộ chúng sanh thành Đạo Vô Thượng.
5)
Năm uẩn: Có chỗ gọi năm ấm. Là năm thứ ngăn che mất Chân Tánh. Năm thứ ấy
là: s
ắc, thọ, tưởng, hành, thức.
6)
Mười hai xứ: Có chỗ gọi là mười hai nhập. Tức là sáu căn: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt,
thân, ý và sáu tr
ần (cảnh): sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.