PHẬT THUYẾT ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC KINH - Trang 575

KINH VÔ LƯỢNG THỌ - ÂM HÁN VIỆT & CHỮ HÁN

575

N

ẾU MUỐN PHẬT PHÁP HƯNG, DUY CHỈ CÓ TĂNG KHEN TĂNG!

c

ục đá đó lăn mấy vòng rồi tựa vào bên cạnh trụ cầu. Mọi người đều đặc biệt kinh

ng

ạc, có người hỏi Pháp sư Hải Khánh sao lại làm được như vậy? Ngài khiêm tốn

cười và nói: “Đó toàn là A Mi Đà Phật gia trì!”.

Lúc

đó, đường cái vẫn còn là đường đất, mỗi khi trời mưa thì mặt đường bị

ng

ập hư. Vì vậy, thường xuyên có thể nhìn thấy Hòa thượng Hải Khánh mang theo

cái x

ẻng đi sửa đường. Ngài không thích nói một câu chuyện phiếm nào, càng không

khoe công lao c

ủa bản thân mình. Sau khi làm việc về trễ thì ăn chút cơm nguội, có

lúc c

ả cơm nguội cũng không còn thì ăn ít màn thầu (bánh bao) nguội.

Khi

ấy, chính quyền nông thôn đều được Ngài làm cảm động. Lúc họp chính

quy

ền, họ kêu gọi cán bộ đảng viên đều phải học tập sư phụ Hải Khánh của chùa Phật

Lai. Th

ời kỳ này cuộc sống vô cùng gian khổ, đó là 3 năm khó khăn của Hòa thượng

H

ải Khánh, vậy mà Ngài vẫn thường xuyên cứu nguy giúp nghèo. Ngài ở bên đường

l

ớn bố thí cháo và nước cho người qua đường. Bản thân Ngài thiếu ăn ít uống,

nhưng lại thường xuyên chịu đói đem thức ăn nước uống tặng cho người khác.
Nh

ững việc làm này người lớn tuổi bản địa ai ai cũng biết. Lúc đó, Hòa thượng Hải

Khánh ăn cơm là dùng cỏ tranh làm thành cái chén, bản thân Ngài khai khẩn một
mi

ếng đất hoang, đã trồng một ít khoai lang và cây cao lương. Rất nhiều người còn

nh

ớ, Ngài thường xuyên tự mình hấp khoai lang hoặc là trộn rau dại vào cháo cao

lương, dùng chén cỏ tranh cho người qua đường ăn. Khi mới trùng kiến lại chùa Phật
Lai, ch

ỉ có 3 phòng cỏ tranh nhỏ, một cái chảo nhỏ, nấu cơm nhờ nhóm rễ cỏ tranh,

cu

ộc sống rất khó duy trì. Hòa thượng Hải Khánh mỗi ngày đều nấu nước sôi rồi

ngâm lá cây khuynh di

ệp vào thau sành cho người qua đường uống. Lão hộ pháp cư

sĩ Đảng vào nhiều năm sau từng hỏi Hòa thượng Hải Khánh: “Những ngày tháng
kh

ổ sở như thế, làm sao Ngài có thể chịu đựng được vậy?”. Lão Hòa thượng Hải

Khánh nói:

“Toàn là nhờ A Mi Đà Phật đó!”.

H

ậu đức thiện hạnh của Ngài đã vô hình ảnh hưởng sâu sắc tới bá tánh ở

phương này. Mùng 1 và 15 (âm lịch) mỗi tháng, mọi người đều đi lễ bái nhục thân
c

ủa Hòa thượng Hải Khánh, ai gặp phải vấn đề nan giải cũng sẽ đến cầu nhục thân vị

B

ồ-tát này. Cũng như lão Hòa thượng Hải Hiền, lão Hòa thượng Hải Khánh cũng

không r

ời Phật pháp mà hành thế pháp, không bỏ thế pháp mà chứng Phật pháp. Xem

nh

ững ngôn hành khi Ngài trụ thế, đó gọi là chân tu hành, tu hành không phải một

ngày ni

ệm bao nhiêu vạn tiếng Phật hiệu, niệm bao nhiêu bộ kinh, không phải vậy;

mà kh

ởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác của Ngài đều tương ưng với Bồ-tát. Hòa

thượng Hải Khánh không có đi học, không biết chữ, chính là một câu “A Mi Đà Phật”
ni

ệm đến cùng, ngoại trừ một câu Phật hiệu thì không có gì hết. Ngài là tiêu chuẩn

c

ủa “Một môn thâm nhập, trường thời huân tu!”. Sau khi Ngài vãng sanh Cực Lạc

thì

lưu lại nhục thân bất hoại, toàn thân Xá Lợi, đây cũng là chứng minh cho chúng

ta: M

ột câu Phật hiệu “A Mi Đà Phật” có thể làm nên đại sự, đại sự viên mãn, đại

s

ự cứu cánh, không cần kinh điển, câu Phật hiệu này có thể làm xong hết!