SÀI GÒN XƯA, ẤN TƯỢNG 300 NĂM VÀ TIẾP CẬN VỚI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - Trang 187

187

thời xưa là cây bằng lăng to, trên cây bằng lăng một
hột gừa bay theo gió, từ đâu đến, hoặc do con chim
nào đậu trên cây bằng lăng rồi phóng uế. Hột gừa ấy
mọc lên như loại ký sinh, lâu ngày rễ đụng đất, sức
lực nhân lên gấp bội, lần hồi ôm chặt lấy gốc cây bằng
lăng mẹ, rút rỉa đến hết sinh lực. Xác khô của cây bằng
lăng mẹ còn thấy được bên trong. Nay còn thêm một
cây lâm vồ cũng bám vào, còn bé trên cao. Như vậy là
quá xưa, nếu tính tuổi của cây mẹ. Từ lâu tôi đặt giả
thiết: Sử chép Trần Thắng Tài, đời Hiền Vương ghé
Cù lao Phố, lập cơ ngơi ở Bàn Lân, sau gọi Tân Lân.
Bàn Lân, phải chăng là cây bằng lăng nguyên sinh mọc
dẫy đầy ở xứ Biên Hòa. Cây gừa nói trên gọi cây mọc
“bó hầu”. Ông Võ Hữu Hoằng, nói trại ra Huồng, làm
chức thủ ngữ, coi trạm thuế đường sông ở Nhà Bè (Sài
Gòn) là nhân vật để lại dấu ấn từ buổi đầu. “Nhà Bè
nước chảy chia hai, Ai về Gia Định Đồng Nai thì về”.
Câu ca dao xưa, nhưng non 300 năm, vì tên Gia Định
chỉ phổ biến sau Nguyễn Hữu Cảnh. Nhà Bè, kiểu nhà
nổi dùng tre rừng kết lại làm phao là nơi ông “trưởng
trạm” này bày ra, để bố thí nước ngọt, gạo, củi cho
dân khẩn hoang, nơi ngã ba sông lớn có đến 6 tháng
chịu nước mặn. Truyền thuyết về ông trưởng trạm này
nhắc nhở sự bố thí, mong được giảm tội tham nhũng,
khi chết xuống cõi Thập Điện. Quanh Nhà Bè, lần hồi
qui tụ ghe buôn – chợ nổi đầu tiên của phía Nam. Một
điểm liên quan đến Nguyễn Hữu Cảnh là Bến Cá (chữ