SÀI GÒN XƯA, ẤN TƯỢNG 300 NĂM VÀ TIẾP CẬN VỚI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - Trang 325

325

to nơi phèn, úng lụt khó bề làm ruộng, làm sào huyệt
cho từng đàn chuột chờ dịp bủa ra cắn phá lúa nơi xa
xôi. Bàng dùng để làm bao bì, bấy giờ bao bố (đay) khó
tìm, nhập từ Ấn Độ; bao bàng (gọi theo tiếng Khơme là
cà ròn), dùng đựng đậu, bắp hột, lúa... Nhổ bàng, dùng
xuồng nhỏ, thích hợp nhất là kiểu độc mộc (bằng cây
sao), nhổ bằng sức tay, bó lại, thả nổi trên mặt nước,
được chừng năm mươi bó thì buộc nối đuôi nhau. Ta có
hình ảnh chiếc xuồng một người chống, kéo theo phía
sau những bó bàng buộc lại theo lối xỉa tiền, như con
rắn dài. Bàng phơi cho héo, dùng chày mà giã cho dập,
rồi đan cà ròn hoặc tấm đệm tùy ni tấc; đệm chằm lại
làm chiếc nóp. Nghề nhổ bàng cực nhọc, mỗi chuyến đi
ba bốn ngày đêm mới xong, nhổ ở đất hoang, xa chòm
xóm, đầy muỗi mòng. Đem theo mớ gạo, củi mắm; nấu
cơm ăn tạm no, ban đêm, muỗi bay ào ra như đàn ong,
không chỗ nằm ngủ vì xuồng quá nhỏ. Nhiều người ỷ
sức trai, cho nước tràn vào ngập xuồng rồi dầm mình
trong nước, không bị muỗi cắn (gọi khôi hài ngủ mùng
nước), hoặc nằm lim dim, kê đầu lên mũi xuồng, dễ thở
hơn, khi muỗi bu lại quá nhiều thì đứng dậy, dùng sào
mà chống cho xuồng lướt nhanh nổi gió, muỗi bay theo
không kịp, chịu đựng như vậy chờ khi trời sáng. Nghề
nhổ bàng có tiền nhanh nhưng dễ sanh bịnh. Khi hoàng
hôn đến, nghĩ tới phận người giữa đồng cỏ bao la, chỉ
biết nương tựa linh hồn vào đỉnh núi Cấm, vùng Thất
Sơn, với ánh trăng mờ ảo, bầy chim ăn đêm bay qua