203
nhân mà cũng không phải là quả, và cũng không lệ
thuộc vào nhân quả. Nó không nằm trong tiến trình
duyên khởi. Mọi nguyên nhân đều chấm dứt và không
còn điều kiện nào nữa ở đó. Tâm này vượt lên trên sự
sinh tử, vượt lên trên sự hạnh phúc và đau khổ, vượt
lên trên thiện ác. Không ngôn từ nào có thể diễn tả cái
tâm được. Tất cả những điều kiện trợ duyên đã chấm
dứt và mọi nỗ lực diễn đạt cái tâm chỉ dẫn đến sự dính
mắc. Từ ngữ lúc đó trở thành lý thuyết về cái tâm.
Sự mô tả trên lý thuyết về cái tâm và những động
thái của nó không phải là không đúng, nhưng Đức Phật
nhận thấy rằng loại kiến thức này không ích lợi gì cả.
Bạn hiểu một điều gì đó trên l{ thuyết rồi tin tưởng nó,
nhưng nó không có lợi ích thiết thực. Nó không mang
đến sự bình an nội tâm. Cái biết của Đức Phật dẫn đến
sự buông bỏ. Nó dẫn đến sự từ bỏ. Bởi vì chính cái tâm
này khiến chúng ta dính mắc vào sự đúng sai. Nếu
chúng ta khôn ngoan, chúng ta chỉ dính líu đến những
điều phải. Nếu chúng ta khờ dại, chúng ta dính líu đến
những điều sai quấy. Tâm như thế là thế gian và Đức
Thế Tôn dùng các pháp của thế gian để xem xét chính
thế gian này. Rồi khi Ngài nhìn thấy thế gian như nó
đích thật là, Ngài được gọi là “Đấng Toàn giác”.
Trở lại với vấn đề của Thiền Chỉ và Thiền Minh
Sát. Phát triển những trạng thái này trong tâm của
chúng ta là điều quan trọng. Chỉ khi tự mình phát triển
chúng, chúng ta mới biết chúng đích thật là gì. Chúng
ta có thể đi khắp nơi nghiên cứu Kinh điển về những
yếu tố tâm lý của tâm, nhưng sự hiểu biết trí thức đó
không giúp ích gì cho việc đoạn trừ tham, sân, si. Chúng
ta chỉ tìm hiểu tham, sân, si trên lý thuyết, chỉ mô tả