299
Cho nên, có Vitakka (hướng tâm về đối tượng) rồi
mới Vicāra (dán chặt tâm trên đối tượng), Vitakka rồi
Vicāra, Vitakka rồi Vicāra, và cứ như thế, cho đến khi
Vicāra dần dần trở nên vi tế hơn. Lúc đầu, Vicāra đi
khắp nơi giống như nước chảy. Nếu chúng ta bực bội
điều này và muốn ngừng dòng nước chảy, chúng ta sẽ
đau khổ. Nếu chúng ta hiểu rằng nước chảy là việc tự
nhiên, chúng ta không đau khổ. Vicāra là thế đó. Có
Vitakka, rồi Vicāra tương tác với các cảm thọ. Chúng ta
có thể dùng những cảm thọ này làm đối tượng thiền
của mình, lắng dịu tâm bằng cách nhận biết những cảm
thọ này.
Nếu chúng ta biết bản chất của tâm là thế, chúng
ta sẽ xả bỏ, giống như việc để cho nước chảy tự nhiên.
Vicāra càng lúc càng trở nên vi tế hơn. Có lẽ tâm muốn
quán tưởng thân thể hay sự chết, hay những đề mục
khác. Khi đề mục quán tưởng thích hợp với chúng ta,
một cảm giác khoan khoái sẽ phát sinh. Sự khoan khoái
đó là gì vậy? Nó là trạng thái Hỷ (Pīti), có thể trong hình
thức mát mẻ, nhẹ nhõm hay sởn ốc, nổi da gà. Tâm mê
mẩn. Sự Hỷ này đi kèm với Lạc (Sukha), sự phát sinh và
tan biến của nhiều thứ cảm xúc và trạng thái nhất tâm
(Ekaggatā).
Trong tầng thiền thứ nhất (Sơ thiền), chúng ta có
đầy đủ 5 chi thiền là Tầm (Vitakka: sự hướng tâm về
đối tượng quan sát); Tứ (Vicāra: Tâm dán chặt vào đối
tượng); Hỷ (Pīti: tâm hoan hỷ); Lạc (Sukha: Thân tâm
nhẹ nhàng, dễ chịu) và Nhất tâm (Ekaggatā: Tâm an
trú trên đối tượng). Còn tầng thiền thứ hai (Nhị thiền)
thì sao? Khi tâm trở nên thanh nhẹ hơn, Tầm và Tứ trở
thành thô tạp nên chúng bị loại bỏ, chỉ còn lại Hỷ, Lạc