TAM QUỐC CHÍ - NGÔ CHÍ - Trang 472

[ CHÚ THÍCH ]

(1)

Lam Điền sinh ngọc: Lam Điền là tên đất ở thuộc nước Tần thời xưa,

nổi tiếng sản sinh ra ngọc đẹp. Ý nói cha hiền thì sinh con hiền.

(2)

‘Chi lư’: Khác viết thêm hai chữ này thành câu “Gia Cát Tử Du chi

lư”, nghĩa là “con lừa của Gia Cát Tử Du”.

(3)

Chú: ý nói chú ruột của Khác là Gia Cát Lượng tự Khổng Minh, bấy

giờ làm Thặng tướng của nước Thục.

(4)

Sư Thượng Phủ: là danh hiệu của Lữ Thượng hay Khương Tử Nha.

(5)

Những thứ ấy xuất ra cùng chỗ: ý nói phân ngựa và trứng gà cùng

được xuất ra từ hậu môn cả.

(6)

Phụ Ngô Tướng quân: tức Trương Chiêu tự Tử Bố, bấy giờ được Tôn

Quyền bái làm Phụ Ngô Tướng quân.

(7)

Kinh

Thi khen công vỗ về, kinh Dịch ngợi công chém đầu:

kinh

Thi có câu viết: “Bắt được giặc xấu, vỗ về mà thả về”. Kinh

Dịch có câu viết: “Vua đi đánh dẹp, chém đầu vua nước Hữu Gia, lại
bắt được kẻ xấu, không có lỗi”. Ý nói khen ngợi công lao đánh dẹp.

(8)

Phương, Thiệu của nhà Chu, Vệ, Hoắc của nhà Hán: Phương tức

Phương Thúc (

方叔), Thiệu tức Thiệu Hổ (召穆公), là hiền thần thời vua

Tuyên Vương của nhà Chu, đánh dẹp rợ Hiểm Duẫn ở phía bắc và rợ Man
Kinh ở phía nam. Vệ tức Vệ Thanh, Hoắc tức Hoắc Khứ Bệnh, là danh
tướng thời vua Vũ Đế của nhà Hán, đánh dẹp rợ Hung Nô ở phía bắc.

(9)

‘Tứ mẫu’: kinh

Thi có bài hát Tứ mẫu nói về nỗi lòng nhớ

về quê nhà của một viên quan đi vỗ về phương xa.

Tả truyện có chép:

Tứ mẫulà bài hát mà vua hát để an ủi sứ giả vậy”. Ý nói an ủi người

đi xa về.

(10)

‘Ẩm chí’: ‘Ẩm chí’ là đem rượu ra uống.

Tả truyện có chép:

“Đi đánh trận thì cáo tế ở tông miếu. Lúc quay về thì đem rượu uống rồi
ban tước, thưởng công, đấy là lễ vậy”. Ý nói lễ mừng thắng trận.