mắt họ như một bức màn, cũng biết rằng nếu họ bị mù trong khi nhìn chằm
chằm bất động vào một bức minh họa như thế trong nhiều ngày nhiều tuần
liên tục, thì linh hồn họ cuối cùng sẽ hòa vào sự vĩnh cửu của bức tranh."
Vào giờ cầu kinh tối, khi cổng Quốc khố được mở ra với cùng trình tự
đó và dưới cái nhìn cũng của đám người đó, Sư phụ Osman vẫn nhìn chăm
chú vào trang giấy trước mặt ông, vào con chim đang bay bất động trên bầu
trời. Nhưng nếu bạn nhận ra vẻ mờ đục trên đồng tử của ông, bạn cũng sẽ
thấy rằng ông nhìn vào trang giấy một cách kỳ lạ, như người mù đôi khi
định hướng không chính xác thức ăn trước mặt họ.
Các quan trông coi Quốc khố biết rằng Sư phụ Osman sẽ ở lại trong đây
và biết Jezmi Agha vẫn ở ngay nơi cửa, nên đã quên lục soát tôi kỹ lưỡng
và không tìm thấy cây kim tôi giấu trong lớp áo lót. Khi từ sân lâu đài bước
ra đường phố Istanbul tôi rẽ vào một hẻm nhỏ và lấy vật khủng khiếp đó ra,
vật mà Bihzad huyền thoại đã dùng để tự đâm mù mắt mình, nhét nó vào
khăn quàng.
Tôi gần như chạy qua các phố.
Cái lạnh trong các phòng Quốc khố đã ngấm quá nhiều vào xương tủy
tôi đến độ tôi tưởng như thời tiết dễ chịu của mùa xuân sớm đã về trên khắp
đường phố. Khi tôi đi ngang qua tiệm tạp hóa, tiệm cắt tóc, tiệm dược thảo,
cửa hàng rau và trái cây và hàng bán củi của khu chợ Quán trọ cũ, từng gian
hàng đang lần lượt đóng cửa nghỉ, tôi bước chậm lại và cẩn thận xem xét
những thùng rượu, vải trải giường, những củ cà rốt, những chiếc bình trong
cửa hàng ấm áp thắp đèn dầu.
Con phố của Enishte của tôi (tôi vẫn chưa quen gọi nó là "con phố của
Shekure" chứ đừng nói là "con phố của tôi") có vẻ thậm chí lạ lẫm và xa xôi
hơn sau hai ngày tôi vắng mặt. Nhưng niềm vui của việc được gặp lại và
nói chuyện với Shekure của tôi, và ý nghĩ rằng tôi có thể chui vào giường
của người yêu tôi tối nay - vì tên giết người gần như đã bị bắt - khiến tôi