THỰC DƯỠNG NGĂN NGỪA CÁC BỆNH UNG THƯ - Trang 159

Tủ sách Thực Dƣỡng

T

T

h

h

c

c

d

d

ư

ư

n

n

g

g

đ

đ

c

c

t

t

r

r

u

u

n

n

g

g

t

t

h

h

ư

ư

r

r

u

u

t

t

k

k

ế

ế

t

t

đ

đ

i

i

t

t

r

r

à

à

n

n

g

g

h

h

t

t

t

t

p

p

:

:

/

/

/

/

t

t

h

h

u

u

c

c

d

d

u

u

o

o

n

n

g

g

.

.

v

v

n

n

Trang 125

nhóm kia là 184 miligrams. Phân tích kỹ hơn thì thấy ăn trứng cúng tăng đáng kể tỉ số
cholesterol và mỡ trong máu, cá và sản phẩm sữa cũng vậy.

“Mức lipid thấp trong máu người ăn

chay”

. Những nhà nghiên cứu còn thêm, dân ở vùng chƣa phát triển công nghiệp cũng có số liệu

nhƣ thế, bệnh tim mạch, bệnh ung thƣ và những chứng thoái hoá khác đều ít thấy.

Sacks trong

New England Journal of Medicine.

Nghiên cứu dịch tễ học năm 1975 cho rằng ung thƣ và tiêu thụ thịt cùng gia tăng với

nhau ở phụ nữ 23 nƣớc, ung thƣ ruột giảm khi quần chúng ăn mễ cốc nhiều hơn.

Carns trong

“Vấn đề ung thư” tập san Scientific American.

Nghiên cứu dịch tễ học năm 1977 báp cáo có liên hệ chặt chẽ giữa ung thƣ ruột và tiêu

thụ trứng chia theo đầu ngƣời, rồi thịt heo, đƣờng, bia…

Knox “Thức ăn và bệnh tật” tập san:

British Journal of Preventive Social Medicine.

Năm 1977, một nhà nghiên cứu ngƣời Ấn xác định rằng sự vắng bóng ung thƣ tá tráng ở

dân Punjab Bắc Ấn là vì họ tiêu thụ nhiều chất xơ. Dinh dƣỡng của ngƣời bang Punjab gồm bánh
Chapati nhào với đậu lăng, ca ri cùng một chút sữa chua. Ở miền Nam Ấn, tỉ số ung thƣ tá tràng
cao hơn, cơ bản là gạo đánh bóng trắng, nhiều chất béo hơn, dầu và gia vị dùng nhiều hơn. Chƣa
hết, nhai kỹ cũng làm giảm nguy cơ ung thƣ

“Nhai đúng qui cách sẽ đảm bảo vị toan nước bọt trộn

kỹ vào thức ăn cũng là cách bảo vệ ruột.” Malhotra, Medical Hypotheses

.

Những nhà nghiên cứu năm 1977 cho rằng có sự liên hệ giữa chế độ ăn mỡ, và tử vong

theo tuổi mắc ung thƣ tá tràng trong 41 nƣớc.

Wynder & Reddy “Dinh dưỡng ở ung thư tá tràng”.

Nhà xuất bản Myron Winick, New York 1977.

Năm 78 nghiên cứu những trƣờng hợp khỏi bệnh ở New York báo cáo, sự thuyên giảm của

bệnh ung thƣ tá tràng là do ăn rau, nhất là bắp cải, măng Bỉ Brussel, rau súp lơ (chou fleur). Graham

“Dinh dưỡng & bệnh lý ung thư tá tràng, bệnh trĩ” tập san Journal of the National Cancer Institude.

Các nhà khoa học đã báo cáo năm 1980 là sự gia tăng cả hai ung thƣ tá tràng và ruột kết

đều do ăn tăng lƣợng calori, chất béo, đạm và mỡ, dầu, acid và cholesterol. Nguy cơ cao nhất
vẫn là mỡ động vật và có bằng chứng ăn nhiều kéo bệnh lên cao.

Mỹ. Jain, tập san International

Journal of Cancer.

Khảo sát 21 cá nhân theo dƣỡng sinh năm 1981, những nhà nghiên cứu của trƣờng Y

khoa Harvard báo cáo: Nếu thêm 250 gr thịt bò vào khẩu phần hàng ngày cho mỗi ngƣời trong
bốn tuần liền thì thành phần cholesterol trong máu tăng 19%. Nhịp tim và áp huyết cũng tăng
đáng kể. Khi trở lại chế độ ăn bình thƣờng, nồng độ cholesterol và huyết áp lại trở về nhƣ trƣớc.

Sacks trong tập san Journal of the American Medical Assosiation.

Báo cáo sơ bộ năm 1981 về đƣờng tinh luyện và sự phát triển khối u kết tràng ở loài

chuột. Thử nghiệm cho biết cứ 1.6% dung dịch glucose tìm thấy trong máu thì khối u lại tăng lên
gấp đôi.

M. Ingram & Castleden tạp chí “Bổ dưỡng & ung thư”.

Dân Phần Lan ăn rất nhiều mỡ và có tỉ số ngƣời bị bệnh tim mạch nhiều nhất trong các

nƣớc công nghiệp, nhƣng lại có tỉ lệ ung thƣ ruột kết thấp, chỉ bằng 1/3 Hoa Kỳ. Những nhà