cánh chuyến cuối cùng. Ít ra việc này cũng cung cấp bằng chứng cho gia
đình anh biết rằng anh vẫn sống rất an lành. Tôi tin anh sẽ hoan hỉ thấy
rằng đây là một nhượng bộ phát xuất từ sự tôn trọng những công tác mà
thuở trước cha anh đã làm cho chúng tôi.
Hồ Chí Minh gõ nhè nhẹ lên bì thư để làm nổi bật lời nói của mình nhưng
Mark chẳng nghe thấy gì nữa. Ánh mắt anh lúc này không còn vẻ đờ đẩn
như trước. Hai con mắt nhìn hau háu vào số đồ vật ít ỏi trên bàn. Cảm giác
được thái độ biến đổi của Mark, Trần Văn Kim ra hiệu cho lính gác bước
lên. Nhưng khi anh ta chưa tới sát bên Mark, người Mỹ đã đột nhiên phóng
mình lên khỏi ghế.
Hai bàn tay bị còng của Mark vươn như điên trên mặt bàn cho tới khi với
tới món đồ nhỏ bé đầy lông. Chưa kịp kéo nó về phía mình anh đã bị lính
gác lẹ làng mở khuy bao da súng lục, rút súng ra, trở ngược báng súng nện
xuống mấy đốt ngón tay của anh. Cùng với cử động đó, từ đằng sau, anh ta
cung tay kẹp chặt cổ Mark. Nhưng dù bị nghẹt thở, ú ớ, hai mắt lồi lên
trắng dã dưới sức ép của thế khóa, người Mỹ vẫn không buông chiếc bùa
ra.
- Vật gì thế?
Lớp giấy da thuộc trên mặt ông lão nhăn lại thắc mắc khi ông nóng nảy hỏi
Kim bằng tiếng Việt. Kim trả lời:
- Thưa Bác, cháu nghĩ đó là cái chân thỏ. Theo biên bản thẩm vấn, thằng
trung úy Sherman sau cùng đã thừa nhận rằng nó lúc nào cũng đeo cái chân
đó trong người, suốt các phi vụ, từ khi cất cánh cho tới khi hạ cánh. Ở bên
tây, người ta tin rằng những vật như thế mang lại may mắn cho họ.
Nghe vậy, gã lính gác đột ngột vung cánh tay còn lại chụp bàn tay Mark,
cạy bật các ngón tay của anh ra rồi vặn ngược bàn tay anh lại, vồ lấy chiếc
chân thỏ. Nhếch mép cười thắng lợi, anh ta ném chân thỏ lên mặt bàn.
Nhưng dù hai tay bị còng chặt, Mark vẫn quẩy lộn như điên, vùng được
người ra. Thêm lần nữa anh lao mình lên mặt bàn, cố sức chụp lại chiếc
chân thỏ. Nhưng người lính gác thứ hai đang đứng nơi cửa phòng lật đật
chạy tới, nhảy lên người Mark. Phải lựa thế lắm hai bộ đội người Việt mới
vật được người Mỹ xuống sàn nhà, vừa khóa anh nằm không cục cựa vừa