TRANG TỬ NAM HOA KINH - Trang 291

Trang Tử và Nam Hoa Kinh

Nguyễn Hiến Lê

Tạo Ebook:

Nguyễn Kim Vỹ

Nguồn truyện: vnthuquan.net

946 [2] Nguyên văn: kì vị hình dã, diệt ngoại hĩ. H.C.H. dịch là: đối với hình thể hà khắc quá.

947 [3] Nguyên văn: kì vị hình dã, diệc viễn hĩ. Câu này cũng nhƣ câu trong chú thích trên rất tối

nghĩa, mỗi sách giảng mỗi khác.

948 [4] Coi chú thích chƣơng X: Khƣ khiếp.

949 [5] Hai chữ hoảng hốt này nguyên ở Đạo Đức kinh của Lão tử. L.K.h. dịch là: vụt qua, không

bắt đƣợc, không hiểu đƣợc.

950 [6] Ta thƣờng dịch là vỗ vào cái bồn. Chính là cái bằng đất mà thời đó, nƣớc Tần là nhạc khí.

951 [7] Coi chú thích bài trên. Có thể dịch là cái hƣ không.

952 [8] Tức trời đất.

953 [9] Chi Li tƣợng trƣng cho sự quên hình hài; Hoạt Giới tƣợng trƣng sự quên trí tuệ.

954 [10] Tƣợng trƣng sự tối tăm.

955 [11] Nguyên văn là chữ liễu (cây liễu); nhƣng các bản đều bảo chính là chữ lựu (cái bƣớu).

956 [12] Nguyên văn: dĩ thiên địa vi xuân thu (lấy trời đất làm mùa xuân mùa thu).

957 [13] Cũng nhƣ bài 3 chƣơng Thiên vận, Động Đình ở đây chỉ là một tên tƣợng trƣng.

958 [14] Nguyên văn là hiếu ố: thích và ghét.

959 [15] Bài này trong bộ Liệt tử, trang 96 – Lá Bối – 1972.

960 [16] H.C.H. bảo đọc là tuyệt, D.N.L. đọc là kế. Không có trong các tự điển.

961 [17] Ở đây chắc thiếu mấy chữ: con di lộ lại sinh ra con cửu du.

962 [18] Trình: D.N.L. cho là một loại sâu màu hong; H.C.H. lại bảo là con báo (Ngƣời nƣớc Việt

thời đó gọi con báo là trình).