Tới bốn giờ, tôi choàng tỉnh khi nghe cửa phòng bật mở. Tôi chớp chớp
mắt, quay mặt về phía ánh sáng. Thomas đứng đó, bóng ngả trên lối cửa, bộ
pyjama rộng thùng thình của nó tụt xuống, chiếc chăn thoải mái sà cả
xuống sàn. Tôi không thấy mặt nó, nhưng nó cứ đứng đó ngập ngừng, như
thể không biết phải làm gì tiếp.
“Lại đây, Thomas,” tôi thì thầm. Khi nó rón rén đi lại gần tôi, tôi thấy
nó vẫn còn gà gật. Bước chân nó xiêu vẹo, ngón tay cái đút trong miệng,
chiếc chăn yêu quý của nó quấn chặt một bên người. Tôi mở chiếc chăn ra,
nó trèo lên giường bên cạnh tôi, cái đầu dày tóc của nó vùi xuống chiếc gối
còn lại, rồi nó cuộn tròn như cái bào thai. Tôi phủ chăn lên mình nó rồi nằm
đó, ngắm nhìn thằng bé, ngạc nhiên thấy nó lập tức chìm vào giấc ngủ ngon
lành.
“Ngủ ngon, ngủ ngon, bé yêu,” tôi thì thầm, hôn lên trán nó. Một bàn
tay mũm mĩm bé nhỏ vươn ra nắm lấy vạt áo tôi, như thể để tự mình đảm
bảo rằng tôi sẽ chẳng thể đi đâu hết.
“Nơi đẹp nhất anh từng tới là đâu?”
Chúng tôi đang ngồi trong lán, chờ cơn mưa bất chợt tạnh để có thể dạo
quanh khu vườn phía sau lâu đài. Will không thích đi vào khu vực chính -
quá nhiều người trố mắt nhìn anh. Nhưng những vườn cây này quả là một
trong những kho báu bí mật của lâu đài, rất ít người lai vãng. Những vườn
cây ăn trái hẻo lánh này được chia tách bởi những lối đi rải sỏi dễ thương
khiến xe của Will có thể xử lý khá dễ dàng.
“Tiêu chí là gì? Cái gì đây?”
Tôi đổ ít súp từ bình ra thìa rồi đưa lên môi anh. “Cà chua.”
“Ừ. Trời ơi, nóng thế. Để tôi nghĩ một phút nhé.” Anh nhìn ra xa xăm.
“Tôi đã trèo núi Kilimanjaro năm tròn ba mươi. Khá phi thường đấy.”