Turkestan russe.
(4) Nguyệt thị (Indescythe): giống người ở phía bắc Ấn độ, phía trên sông Indus
bây giờ.
(5) Vào khoảng thế kỷ thứ II sau T.L, Phật giáo chia làm hai phái: một là Tiểu
thừa (nghĩa đen là xe nhỏ: chữ phạn là Hinayâna) về giáo lý thì Tiểu thừa được
giữ chính truyền của Phật tổ hơn. Về sau các nước thuộc về Nam tôn (như Tích
lan, Xiêm la, Miến điện, Cao Miên) theo phái Tiểu thừa, cón các nước htuộc về
Bắc tôn (như Tây tạng, Trung Hoa, Cao Ly, Nhật Bản, Việt Nam ) theo phái đại
thừa.
(6) Thiền phái hoặc thiền tôn: Một phái của Phật giáo do ông tổ thứ 28 là Bồ đề
đạt ma (Bodhidharma - mất năm 528) người Thiên trúc, sang đất Quảng Châu
bên tàu về đời nhà Lương lập ra. Thiền nghĩa là thanh tĩnh; phái này cốt đem
lòng thanh tĩnh để tu luyện cho thành Phật, không cần văn tự nên cõng bọi là
“tâm tôn”. --
2. Đạo giáo
Lão tử.- Người sáng lập ra Đạo giáo là Lão Tử (hai chữ này chỉ là danh hiệu và
nghĩa là “ông thầy già”, nhưng thân thế của ông ,ta không biết rõ. Theo sách Sử
ký của Tư mã Thiên (7) thì ông họ là Lý, tên là Nhĩ tự là Bá dương thụy là Đam
người huyện Hỗ thuộc nước Sở (nay thuộc tỉnh Anh huy) không rõ sinh và mất
năm nào (có sách cho là sinh năm 570 và mất năm 490 tr.TL(nhưng cũng ở
đồng thời với đức Khổng tử, nghĩa là vào thế kỷ thứ VI tr.T.L vì sử chép rằng
năm 522, Khổng tử có một lần đến hỏi lễ ở ông. Ông có làm quan trụ hạ sử
(quan giữa công văn) nhà Chu. Sau ông bỏ đi về phía tây (Cam túc), không biết
rồi ra thế nào. Nhưng có người lại bác cái thuyết ấy, cho rằng Lão tử chính tên là
Dương Bá Phú ở vào thế kỷ thứ VIII tr.TL chứ không phải là Lão Đam ở đời
Xuân thu nói trên.
Dù sao chăng nữa, ông có viết ra Đạo đức kinh (hai thiên, 81 chương, hơn năm
ngàn lời nói) để bày tỏ cái tôn chỉ của ông, bởi thế mới gọi cái đạo của ông sáng
lập là đạo giáo.
Về sau lại có Liệt tử và Trang Tử cũng làm sách để diễn giải và truyền bá cái
tôn chỉ của ông và bài bác các học thuyết khác, thứ nhất là Nho giáo.
--
(7) Tư Mã Thiên: Một đại sử gia nước Tàu vào thế kỷ thứ I tr. T.L về đời nhà