nếu không gượng gạo, gò ép thì lại mắc cái lỗi không thông, dưới mâu thuẫn
với trên hoặc có một vài ý mâu thuẫn với chủ trương của Lão tử. Dư Bồi
Lâm (sách đã dẫn) đã gắng sức chú thích cho ý nghĩa được nhất quán, và
dưới đây chúng tôi tạm theo thuyết của ông.
Đại ý ông bảo: Hai chữ nhược 若 trong câu đầu nghĩa như chữ nãi 乃 (thời
xưa hai chữ đó đọc giống nhau, nên dùng thay nhau), nghĩa là bèn, thì, do đó
mà... Nhiều người không hiểu vậy, giảng là như tối, hoặc sửa lại là chữ giả,
như vậy vô nghĩa. Chữ quí 貴 nghĩa là coi trọng, tức sợ (theo Hà Thượng
Công); còn chữ thân ⾝ với chữ kinh 驚 ở trên là “hỗ bị ngữ” 互備語 tức
những chữ làm đủ nghĩa lẫn nhau, đọc chữ sau thì phải coi ngược lên chữ
trước mới thấy nghĩa
, và nghĩa nó cũng là kinh. Vậy câu đầu có nghĩa là:
Vinh, nhục thì lòng sinh ra rối loạn, sợ vạ lớn thì lòng rối loạn.
Câu đó là cổ ngữ, chứ không phải của Lão tử vì Lão tử chủ trương “vô dục”
(Ngã vô dục nhi dân tự hóa – chương 57); “hậu kỳ thân, ngoại kỳ thân”
(chương 7), thì đâu lại để cho vinh nhục, đắc thất làm cho rối loạn, đâu lại
“coi trọng cái vạ lớn như bản thân mình”. Vì vậy, Dư Bồi Lâm đặt câu đó
trong dấu móc [ ]. Những câu sau mới là lời giải thích của Lão tử. Và Dư
dịch như sau:
[Người đời được vinh hay bị nhục thì lòng sinh ra rối loạn, sợ vạ lớn thì sinh
ra rối loạn].
Tại sao vinh, nhục sinh ra rối loạn? Là vì vinh thì được tôn, nhục thì bị hèn;
được thì lòng [mừng rỡ mà] rối loạn, mất thì lòng [rầu rĩ mà] rối loạn; cho
nên bảo là vinh nhục sinh ra rối loạn.
Tại sao sợ vạ lớn mà sinh ra rối loạn? Chúng ta sở dĩ sợ vạ lớn là vì ta có
cái thân. Nếu ta không có thân [quên mình có thân đi] thì còn sợ gì tai vạ
nữa.