Bốn chữ “thập bách chi khí” trong câu đầu, chúng tôi hiểu theo Hà Thượng
công; không dùng những khí cụ đó, những cơ khí đó vì có “cơ giới” thì có
“cơ tâm”, xảo trá, con người không còn chất phác nữa.
Nhiều nhà dịch là: “binh khí”, lấy lẽ rằng “thập bách” trỏ quân đội, 5 người
là một “ngũ”, 25 người là một “thập”, 100 người là một “bách”. “Thập bách
chi khí” là khí giới của quân đội.
Hai chữ “kết thằng” của câu sau nghĩa là thắt dây. Khi chưa có chữ viết,
người ta dùng dây thắc nút để ghi những việc cần nhớ.
Chương này tả quốc gia lí tưởng theo Lão tử. Lão tử muốn trở về xã hội
nguyên thuỷ, và Phùng Hữu Lan (tr.238) bảo như vậy “đại văn minh tựa như
dã man”.
81
信⾔不美,美⾔不信。善者不辯,辯者不善。知者不博,博者不知。
聖⼈不積,既以爲⼈⼰餘有,既以與⼈⼰愈多
。天之道,利⽽不
害。聖⼈之道,爲⽽不爭。
Tín ngôn bất mĩ, mĩ ngôn bất tín. Thiện giả bất biện, biện giả bất thiện. Tri
giả bất bác, bác giả bất tri.
Thánh nhân bất tích, kí dĩ vi nhân kỉ dư hữu, kí dĩ dữ nhân kỉ dũ đa. Thiên
chi đạo, lợi nhi bất hại. Thánh nhân chi đạo, vi nhi bất tranh.
Lời nói chân thực thì không hoa mĩ, lời nói hoa mĩ thì không chân thực.
Người “thiện” thì không cần biện giải (vì hành vi tốt rồi), người nào phải
biện giải cho mình là người “không thiện”. Người sáng suốt hiểu đạo thì tri
thức không cần rộng (vì nắm được chân lí là đủ rồi), người nào tri thức rộng
thì không sáng suốt, hiểu đạo (vì tìm ngọn thì quên gốc).