nó."
"Nhưng điều này sẽ không chứng minh rằng chúng ta quan tâm đến lời
vu khống của họ, ít nhất là đến mức coi trọng nó, phải không? Chúng ta
chẳng làm điều gì để phải sợ cả. Cái gì có thể biện minh cho nỗi sợ hãi đến
thế của anh?" Ông ta vò đầu tôi như một người cha. Tôi sợ rằng mình sẽ òa
lên khóc lần nữa; tôi ôm ông ta.
"Tôi biết tại sao tay thợ mạ vàng Zarif Kính mến bất hạnh đó bị giết," tôi
nói đầy kích động. "Qua việc vu khống ông, cuốn sách của ông và chúng ta,
Zarif Kính mến đã lên kế hoạch cho môn đồ của Nusret Hoja xứ Erzurum
nhắm vào chúng ta. Anh ta tin chắc rằng chúng ta đã rơi vào vòng khống
chế cửa Quỷ sứ. Anh ta bắt đầu tung những tin đồn như thể cố xúi giục
những nhà tiểu họa khác đang làm cho cuốn sách này nổi lên chống lại ông.
Tôi không biết tại sao đột nhiên anh ta làm vậy. Có lẽ vì ghen tỵ, có lẽ anh
ta bị Satan xui khiến. Và những nhà tiểu họa khác cũng nghe chuyện Zarif
Kính mến nhất quyết tiêu diệt tất cả chúng ta như thế nào. Ông có thể hình
dung từng người trong bọn họ càng lúc càng sợ hãi và ngả theo những nghi
ngờ như thế nào, chính tôi đây cũng vậy. Bởi vì một người trong số họ, vào
lúc nửa đêm, đã bị Zarif Kính mến dồn vào chân tường - xúi giục anh ta
chống lại ông, chúng ta, cuốn sách của ông, cũng như chống lại việc minh
họa, vẽ tranh và tất cả những thứ khác mà chúng ta tin tưởng - người nghệ
sĩ đó đã hoảng sợ, giết tên vô lại đó và ném xác hắn xuống giếng."
"Tên vô lại?"
" Zarif Kính mến là một kẻ phản bội hèn hạ, xấu xa. Tên đểu cáng", tôi
la to như thể anh ta đang đứng trước mặt tôi trong phòng này vậy.
Im lặng. Ông ta sợ tôi chăng? Tôi sợ chính mình. Nó như thể tôi đã
khuất phục trước ý chí và ý nghĩ của ai khác vậy; những điều này không
hẳn là kém thú vị.