những bức tranh này. Tôi nói nhanh, hiểu rõ rằng nếu rời lâu đài mà không
gặp được Đúc vua, tôi sẽ bị buộc tội là đã đưa Enishte vào tình cảnh khủng
khiếp đó.
Khi viên thư ký rời phòng để báo cho Trưởng Ngân khố, tôi đột nhiên
đổ mồ hôi lạnh. Liệu Trưởng Ngân khố, người mà, như Enishte của tôi từng
cho biết, không bao giờ rời xa Đức vua, có khi còn trải thảm cầu kinh cho
Ngài, và thường xuyên là bạn tâm tình của Ngày có chịu rời khỏi khu
Enderun cấm địa của lâu đài để gặp tôi không? Việc cử một phái viên đến
khu trung tâm cung điện vì tôi là đủ khó tin rồi. Tôi tự hỏi Đức vua có thể ở
đâu: Ngài đã lui về một trong những nhà thủy tạ gần bờ biển? Ngài đang ở
hậu cung? Trưởng Ngân khố có đi cùng Ngài không?
Hồi lâu sau, tôi được triệu vào. Để tôi mô tả rõ thế này: tôi nhận tin quá
bất ngờ đến độ không có thời gian để sợ. Tuy nhiên, tôi kinh hoàng khi thấy
vẻ tôn kính và kinh ngạc trên nét mặt ông thợ cả dệt nhung đang đứng ở
cửa. Tôi bước vào trong và lập tức hoảng hồn; tôi nghĩ mình không nói
được thành lời. Ông ta đội một khăn thêu chỉ vàng mà chỉ có ông và Hoàng
thượng mới đội; tôi đang ở trước mặt viên Trưởng Ngân khố. Ông ta đang
xem những tranh minh họa nằm trên chiếc bàn đọc sách mà viên thư ký đã
bày ra sau khi nhận từ tay tôi. Tôi cảm thấy như mình chính là người làm
những bức tranh đó. Tôi hôn gấu áo choàng của ông ta.
"Con à," ông ta nói. "Nếu ta không lầm thì Enishte của con đã chết rồi
phải không?"
Tôi không trả lời được vì kích động, hoặc có lẽ vì mặc cảm phạm tội,
mà chỉ gật đầu. Ngay lúc đó điều hoàn toàn bất ngờ đã xảy ra: ở đó, trước
cái nhìn ngạc nhiên và thông cảm của Trưởng Ngân khố, một giọt nước mắt
từ từ lăn xuống má tôi. Tôi đờ người ra; tôi bị tác động kỳ lạ bởi việc có
mặt trong lâu đài, bởi việc Trưởng Ngân khố đã tạm rời Đức vua để tiếp
kiến tôi, và bởi việc tôi đang ở quá gần Ngài. Nước mắt tôi bắt đầu tuôn
trào, nhưng tôi không cảm thấy chút bối rối.