treo cổ. Khu vườn này, vốn gợi nhớ cái chết, luôn gây cho tôi một nỗi buồn
sâu sắc mỗi khi tôi đi qua đến độ tôi luôn quên bẵng rằng mình được giao
nhiệm vụ tìm người mua cơ ngơi này. Ngôi nhà của Zarif Kính mến cũng
mang vẻ chết chóc, dù đối với tôi nó không gợi nỗi buồn. Tôi là Esther, một
phụ nữ từng vào ra hàng ngàn ngôi nhà và quen với hàng trăm quả phụ, tôi
biết rằng những phụ nữ mất chồng sớm thường chìm đắm trong cảm giác
thất bại và khốn khổ hoặc giận dữ và nổi loạn (dù Shekure đã chịu tất cả
những thứ này). Kalbiye đã nạp đủ liều độc dược giận dữ và tôi nhanh
chóng nhận ra rằng điều này có tác dụng thúc đẩy công việc của tôi.
Giống như mọi phụ nữ tự phụ mà cuộc sống của họ quá bất hạnh,
Kalbiye đã nghi ngờ rất chính xác rằng mọi khách khứa đều đến để thương
hại cô trong giờ phút đen tối nhất của cô, hoặc tệ hại hơn, để chứng kiến nỗi
thống khổ của cô và thầm khoái trá rằng hoàn cảnh họ tốt hơn; vì vậy cô
không dự vào những trao đổi xã giao với khách khứa, bỏ qua mọi trò tán
gẫu huê dạng mà đi thẳng vào vấn đề chính. Tại sao Esther lại đến chiều
nay, ngay khi Kalbiye sắp ngủ một giấc giải khuây với nỗi sầu muộn của
cô? Biết rõ cô không quan tâm đến những thứ lụa mới nhất của Trung Hoa
hoặc những chiếc khăn tay xứ Bursa, tôi thậm chí không làm bộ mở túi ra
mà đi thẳng vào vấn đề và mô tả mối ưu tư của Shekure đau khổ. "Nỗi buồn
khổ của Shekure càng tăng khi nghĩ rằng cô ấy đã làm tổn thương tình cảm
của cô, người cũng có nỗi buồn giống như cô ấy," tôi nói.
Một cách kiêu kỳ, Kalbiye khẳng định rằng cô ta không hỏi thăm sức
khỏe của Shekure, không đến thăm để chia buồn và khóc than với cô ấy, mà
cũng chẳng còn lòng dạ nào để làm kẹo với gửi quà. Đàng sau lòng tự ái
của cô ta cũng ẩn nấp một niềm hân hoan mà cô ta không thể che giấu:
niềm vui rằng người ta đã nhận ra sự oán hận của cô ta. Chính từ điểm này
mà Esther nhanh trí của các vị đã cố gắng phát hiện những lý do và tình
huống dẫn đến cơn giận của Kalbiye.