nhiều thế kỷ sau khi cuộc sống mới đã phục hồi trong các thành phố bị tàn
phá và hỏa hoạn, một số họa sĩ vẫn tiếp tục vẽ ngựa theo kiểu này, lòng
đinh ninh đó là mẫu mực chuẩn. Ta cũng tin chắc rằng nhiều kẻ khác, vốn
hoàn toàn không biết gì về kỵ binh Mông Cổ xâm lược và cái mũi bị rạch
của những con ngựa họ cưỡi, vẫn vẽ ngựa theo cách chúng ta vẽ ở xưởng
chúng ta, và nhất quyết rằng đây cũng là 'một mẫu mực chuẩn'."
"Thưa Sư phụ yêu quý," tôi nói, đầy kính sợ, "như chúng ta đã hy vọng,
'phương pháp gái điếm' của thầy thật sự đã đưa ra một câu trả lời. Có vẻ
như mỗi họa sĩ đều có chữ ký giấu kín của riêng anh ta."
"Không phải mỗi họa sĩ, mà là mỗi xưởng vẽ," ông nói đầy tự hào. "Và
thậm chí không phải mỗi xưởng vẽ nữa kia. Trong những xưởng nghèo khổ,
như trong những gia đình khốn khó, mỗi người nói theo một giọng khác
nhau trong suốt nhiều năm mà không hiểu được rằng hạnh phúc luôn sinh ra
từ sự hòa hợp và, như một điều tất nhiên, sự hòa hợp trở thành niềm hạnh
phúc.
Một số họa sĩ cố minh họa giống như người Trung Hoa, một số khác
giống người Thổ Nhĩ Kỳ, một số nữa thì giống trường phái Shiraz, họ ganh
đua nhau suốt bao năm, không bao giờ đạt được một sự hợp nhất hạnh phúc
- giống như một cặp vợ chồng không được thỏa mãn."
Tôi thấy nét mặt ông lộ rõ lòng tự hào; vẻ mặt của một người vốn muốn
trở nên đầy quyền thế giờ đây đã thế chỗ cho nét mặt một ông già rầu rĩ tội
nghiệp mà tôi đã thấy ở ông bấy lâu nay.
"Thưa Sư phụ yêu quý," tôi nói, "suốt hai mươi năm ở Istanbul này, thầy
đã kết hợp nhiều họa sĩ khác nhau từ khắp nơi trên thế giới, những con
người đủ mọi bản chất và tính khí, thành một thể hòa hợp để thầy có thể tạo
ra và định dạng được phong cách Ottoman."