TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG TỪ KHỞI THỦY ĐẾN ĐƯƠNG ĐẠI - Trang 1177

KANT, Phê phán lý tính thuần tuý, Phân tích pháp các

nguyên tắc, Ch.II.

1. Toàn bộ phần "Phản bác thuyết duy tâm" này là được Kant thêm vào cho ấn
bản B.

2. René Descartes (1596-1650) triết gia Pháp. "Thuyết duy tâm nghi vấn" của ông
(problematischer Idealismus) còn thường được gọi là" Thuyết duy tâm hoài nghi"
(skeptischer Idealismus).

3. George Berkeley (1685-1753), giám mục, triết gia Anh (Ái Nhĩ Lan). "Thuyết
duy tâm giáo điều" (dogmatischer Idealismus) của ông còn thường được gọi là
"Thuyết duy tâm chủ quan (cực đoan)" hay thuyết duy ngã (Solipsismus).

Kant gọi cả hai thuyết trên là "Thuyết duy tâm chất thể" [nội dung], để phân biệt
với "Thuyết duy tâm hình thức" (hay còn gọi là "Thuyết duy tâm siêu nghiệm"
của chính ông). (Xem B519-525).

4. Câu "Nhưng cái thường tồn không thể là cái gì ở trong tôi, vì ngay cả sự tồn tại
của tôi trong thời gian cũng chỉ có thể nhờ thông qua cái thường tồn này mới
được quy định" được Kant đề nghị sửa lại như sau cho sáng sủa hơn [Xem: Lời
tựa cho lần xuất bản thứ hai, 1787, BXL, BXLI]:

"Nhưng cái thường tồn này không thể là một trực quan ở trong tôi. Vì mọi cơ sở
quy định có thể bắt gặp ở trong tôi về sự tồn tại của tôi chỉ là những biểu tượng,
và với tư cách là những biểu tượng luôn luôn thay đổi, chúng đòi hỏi phải có một
cái thường tồn khác biệt với chúng làm chỗ dựa, và qua đó, tồn tại của tôi trong
thời gian-trong đó các biểu tượng thay đổi-mới có thể được quy định". [Xin xem
thêm luận giải của Kant về câu chứng minh này trong Lời Tựa đã dẫn].

5. Trong định lý trên, ý thức trực tiếp về sự tồn tại của các sự vật bên ngoài ta
không phải được giả thiết mà được chứng minh, độc lập với việc ta nhận ra hay
không khả thể của ý thức ấy. Câu hỏi về khả thể ấy được đặt ra như thế này: "Phải
chăng ta chỉ có giác quan bên trong mà không có giác quan bên ngoài, do đó [tri
giác về sự vật bên ngoài]chỉ là tưởng tượng?". Hiển nhiên rằng, để tưởng tượng