PLATON nhận thấy rõ rằng quan năng nhận thức của ta bao giờ cũng có cảm
thức về một nhu cầu cao xa hơn là chỉ chạy theo "đánh vần" hiện tượng bằng sự
thống nhất tổng hợp nhằm có thể lần mò đọc chúng như là kinh nghiệm. Lý tính
của ta -một cách tự nhiên- lúc nào cũng muốn nâng lên tầm cao của những nhận
thức mà không kinh nghiệm nào vươn tới và tương ứng nổi, -nhưng những nhận
thức này, tuy thế, vẫn có tính thực tại chứ không phải chỉ là những sản phẩm
hoang đường của đầu óc.
PLATON đặc biệt nhận ra những Ý niệm của ông trong tất cả những gì là thực
hành, tức lãnh vực dựa trên ý niệm Tự do, và ý niệm này tới lượt nó cũng thuộc
về các nhận thức là sản phẩm riêng có của lý tính. Nếu có ai muốn rút ra cái khái
niệm về đức hạnh từ trong kinh nghiệm, điều họ phải làm (như nhiều người đã
làm) là đi tới tìm một mẫu tiêu biểu để minh hoạ cho nguồn nhận thức nhưng
mẫu điển hình này cũng không bao giờ tương ứng một cách hoàn hảo với ý niệm
về đức hạnh được, và như thế trong thực tế, họ đã biến đức hạnh thành một cái gì
hàm hồ không có thực, luôn bị biến đổi theo thời gian và hoàn cảnh, không thể
được sử dụng như một quy luật phổ biến. Ngược lại, ai cũng biết rằng nếu họ
hình dung một người nào đó như một gương điển hình về đức độ, họ bao giờ
cũng có sẵn một nguyên mẫu chân chính [về đức hạnh] trong đầu óc của chính họ
để đem ra so sánh với gương điển hình kia và đánh giá theo tiêu chuẩn của
nguyên mẫu này. Đó chính là Ý niệm về đức hạnh và mọi đối tượng khả hữu của
kinh nghiệm chỉ có thể được sử dụng như điển hình để so sánh với nó- tức để
chứng minh rằng ý niệm đức hạnh có thể được áp dụng trong thực tế với nhiều
mức độ khác nhau theo yêu cầu của bản thân ý niệm này -, chứ những đối tượng
của kinh nghiệm không thể được dùng như những nguyên mẫu được. Tuy một
con người không bao giờ hành động tương ứng trọn vẹn với những gì chứa đựng
trong ý niệm thuần tuý về đức hạnh, nhưng điều ấy không hề chứng tỏ chỉ có một
cái gì hư ảo trong Ý niệm này. Bởi vì chỉ có thông qua Ý niệm này, mọi phán
đoán xem hành vi nào là có giá trị đạo đức, hành vi nào không mới có thể có
được. Như vậy, Ý niệm là nền tảng tất yếu của mọi nỗ lực vươn đến sự toàn hảo
về đạo đức, tuy vậy, biết bao trở lực trong bản tính tự nhiên của con người -
không xác định được về mức độ- làm ta luôn có khoảng cách với nó.
Nước cộng hoà lý tưởng của PLATON (2) đi vào tục ngữ như điển hình kỳ quặc
của một sự hoàn hảo hoang tưởng, chỉ có thể tồn tại trong đầu óc của một triết gia