3) Vậy (kết luận) thế giới chỉ tồn tại trong ý thức". Hạn từ thứ ba ("biểu tượng"
trước được hiểu theo nghĩa "ý thức về đối tượng", sau lại hiểu theo nghĩa "đối
tượng của ý thức".
- petitio principi (tiền giả định của cái phải chứng minh): cái phải chứng minh
được tiền giả định như là khởi điềm hay phương tiện để chứng minh.
- circulus vitiosus (suy luận lòng vòng, lẩn quẩn) (Diallele): suy ra cái này từ cái
kia và lại suy ra cái kia từ cái này.
- ignoratio elenchi (sai vấn đề, lạc đề): lạc đề khi tranh biện/ chứng minh một
mệnh đề không đồng nhất (hay không phải là hệ luận tất yếu) với mệnh đề phải
chứng minh.
Thông thường, ta gọi "nguỵ luận" là suy luận sai một cách cố ý; còn không cố ý
thì gọi là "võng luận" (FehlschuB, Paralogismus) hay suy luận sai lầm, bất thành
("võng": sai lầm. "Học nhi bất tư, tắc võng": học mà không suy xét ắt sẽ sai
lầm(Luận ngữ)). (các dạng nguỵ luận hay nguỵ biện trên đây chỉ được xét về mặt
lôgích hình thức. Chúng có thể có ý nghĩa khác trong môn lôgích học phi hình
thức, tức trong việc sử dụng trên thực tế).
2. Trong triết học Kant và nhất là trong phần Biện chứng pháp siêu nghiệm này,
cần ghi nhớ và phân biệt tính thực tại (Realitt) (chủ quan) là sự khẳng định
(assertio) của phán đoán thuộc phạm trù Chất với tính hiện thực (Wirklichkeit)
(khách quan) của sự vật hay đối tượng thuộc phạm trù hình thái (Modalitt), tương
đương với các thuật ngữ "sự tồn tại"(Dasein, Existenz) hay tính thực tại khách
quan (objektive Realitt).
3. Paralogismus: (gốc Hy Lạp: para: bên cạnh, cận; logismos: suy luận) Võng
luận (Fehlschluss): suy luận sai lầm, ảo tưởng. "Võng luận lô-gích" là sai lầm về
mặt hình thức. "Võng luận siêu nghiệm" là sai lầm do việc sử dụng sai phạm trù
(ở đây là áp dụng phạm trù "bản thể" một cách sai lầm vào cho các phán đoán:
"Tôi tư duy", xem nó là "linh hồn", tồn tại hiện thực như một "bản thể") (B399-
432).